Nơi lưu giữ những tác phẩm của Nhà Văn Nguyễn Mộng Giác (1940-2012)

Nơi lưu giữ những tác phẩm của Nhà Văn Nguyễn Mộng Giác (1940-2012)

Trang NhàMùa Biển ĐộngTập 4 - Bèo GiạtMùa Biển Động - Chương 123

Mùa Biển Động – Chương 123

(Mùa Biển Động – Chương 123)

Ngày 23-1-1973, Tổng thống Nixon loan báo ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger và Lê Đức Thọ đã ký phó thự bản hiệp ước chấm dứt chiến tranh tại hòa đàm Paris. Bản hiệp ước bắt đầu có giá trị từ 0 giờ quốc tế ngày 28-1-73, tức là 7 giờ sáng ngày 28-1 giờ Hà nội, và 8 giờ sáng ngày 28-1 giờ Sài gòn.

Cũng ngày hôm đó, Đại úy Thẩm Đại đội trưởng Đại đội Bốn và Trung úy Huy Đại đội phó tham dự cuộc họp quan trọng tại Gia đẳng, nơi tạm thời đặt Bộ Chỉ huy “Lực lượng Đặc nhiệm Tango”. Lực lượng Đặc nhiệm dưới quyền chỉ huy của Đại tá Tư lệnh phó Sư đoàn, có nhiệm vụ rõ ràng là phải tái chiếm cho được Cửa Việt, trước ngày ngưng bắn. Cửa Việt là đồn hải quân quan trọng kiểm soát tàu bè đi lại trên sông Thạch hãn, đã bị Bắc quân chiếm giữ trong cuộc tổng tấn công bắt đầu hồi cuối tháng Ba năm trước. Quân số Bắc quân bảo vệ Cửa Việt lên tới một trung đoàn. Lực lượng Đặc nhiệm Tango của Đại tá Tư lệnh phó chỉ gồm Tiểu đoàn Bốn và hai đại đội của tiểu đoàn khác, lực lượng trợ chiến gồm chiến xa M-48, M-41, M-113, và pháo 155 ly, chưa kể các khẩu 105 ly cơ hữu của Sư đoàn Thủy quân Lục chiến.

Sáu đại đội dự trận được phân công như sau: năm đại đội chia nhau phụ trách nhổ các chốt địch tại nhiều lớp phòng tuyến bảo vệ Cửa Việt, theo thế xa luân chiến cứ đại đội này chiếm được một mục tiêu thì đại đội khác tiến lên chiếm một mục tiêu khác nằm sâu hơn, đại đội làm xong nhiệm vụ nằm dưỡng quân chờ đến lượt thanh toán mục tiêu khác. Riêng Đại đội Ba nằm ngoài trừ bị, theo kế hoạch hành quân nếu gần tới giờ ngưng bắn mà năm đại đội bạn không nhổ được hết các chốt Bắc quân để lấy Cửa Việt, thì Đại đội Ba sẽ dùng đường biển đổ bộ Cửa Việt để chiếm cứ điểm quan trọng này bằng bất cứ giá nào.

Sáng 27 trời âm u, mưa không còn nặng hạt như những hôm trước nhưng xen vào màn mưa lâm râm là những trận gió buốt thổi từ biển Đông vào. Bấy lâu nay bị tù hãm dưới những công sự lầy lội tối tăm, được lên khỏi mặt đất, lại được di chuyển bằng những chiếc chiến xa vỏ thép dày chắn được đạn bắn sẻ, mọi người đều có cảm tưởng hưởng được hương vị mơ ước của hòa bình. Tuy những đôi giày trận nhuộm bùn làm cho sàn chiến xa bẩn chẳng thua gì lòng hầm công sự, nhưng Lãng cảm thấy thơ thới, yêu đời vì được di chuyển. Tám người ngồi trong chiếc M-113 chỉ có Lãng và Hùng Khùng là dân kỳ cựu, sáu người lính kia đều là tân binh mới bổ sung. Không ai biết người ta chờ mình đi đâu khi mỗi người được phát cho hai lá cờ vải lớn bằng quyển vở học trò. Vỏ thép lạnh tỏa cái rét căm căm nhưng câu chuyện họ trao đổi to tiếng để át tiếng máy chiến xa loanh quanh dự đoán đến công việc họ sắp làm. Một cậu tân binh ý chừng chưa nếm đủ mùi chiến trường, đoán rằng trong một ngày chiến tranh còn lại, quân mình phải đẩy Bắc quân về bên kia bờ sông Bến Hải. Thế là có nhiều tiếng lao nhao phản đối:

– Ham lắm! Có một ngày quèn, làm được gì chúng nó! Chắc họ chở tụi mình đi án ngữ không cho tụi nó lấn thêm đất.

– Cả đêm qua lẫn sáng nay tụi bây có thấy điều gì lạ không? Trên trời không có một bóng phi cơ của mình. Phản lực oanh tạc không, mà cả loại OC-10 trinh sát cũng không. Đánh dàn trận bằng chiến xa mà không có không-yểm, làm sao đánh!

– Tao nghĩ họ chở mình về Huế chuẩn bị dự lễ đình chiến. Vì vậy mới có vụ phát cờ. A ha! Mấy em nữ sinh Đồng Khánh với Mai Khôi đẹp như mơ xinh như mộng mà đến cười ỏn ẻn rồi choàng vòng hoa lên cổ tụi mình, đù má, có lội bùn uống nước sình hằng năm cũng xứng công! Phải không anh Lãng?

Lãng cười khẩy:

– Rán giữ cái đầu trên cần cổ để nhận vòng hoa, các con!

Đám tân binh lao nhao cãi lại:

– Còn hai mươi bốn giờ phù du nữa, qua cái vèo!

– Đi xe có bọc thép, chấp hết tụi bắn sẻ!

– Mìn cũng chấp luôn! Chúng ông đi xe tăng về Huế cho các em nâng niu, chúng ông đéo sợ gì hết!

Họ mải tán dóc không chú ý đoàn chiến xa không chở họ về hướng Nam, mà quay về hướng Đông Bắc.

Chiếc M-113 dừng lại đột ngột. Giấc mơ tan, mọi người ngơ ngác nhìn các đồng đội từ những chiếc chiến xa khác cũng đang lục tục nhảy xuống. Các sĩ quan bắt đầu tập họp lính của mình lại để phổ biến chi tiết kế hoạch hành quân đã chung quyết ở Gia đẳng. Lúc ấy là mười một giờ sáng. Trời vẫn âm u. Mưa nặng hạt hơn, những đồi cát mênh mông chung quanh vàng sẫm dưới cơn mưa, còn những lùm dương thấp mọc rải rác đây đó thì từ mầu lục thẫm biến thành mầu đen. Trông từ xa, các bụi dương liễu giống như những chiếc poncho gói xác đang chờ trực thăng tải thương tới chở về hậu tuyến giao cho các đội chung sự vụ.

***

Đại đội Bốn của Đại úy Thẩm nhận nhiệm vụ thanh toán mục tiêu gần chót, ngay sát vành đai phòng thủ cuối cùng của đồn Cửa Việt.

Suốt tám năm đi lính, đây là lần đầu tiên Lãng được dự một trận giống y như những trận Lãng đã xem trên màn ảnh, trong các phim về thế chiến thứ hai. Cảnh những toán bộ binh núp sau đoàn chiến xa tiến vào bãi chiến trường, trên một thung lũng quang đãng nhìn rõ được đoàn chiến xa địch cũng đang tiến tới, lâu lâu những quả đại bác yểm trợ nổ tung đây đó, hoặc những chiếc chiến xa bốc cháy và nhiều xác người đổ xuống. Chết thì chết, nhưng người còn sống điềm tĩnh bước qua xác bạn mà tiến. Đánh như thế mới ra đánh. Chết như thế mới ra chết! Lãng chưa hề được dự một trận giống như trong phim, và phải đợi tới hôm nay, ngày cuối cùng của một cuộc chiến tranh, Lãng mới được dự.

Lãng và Hùng Khùng ở trong nhóm núp sau chiếc M 48 tiến về phía chốt địch đóng trên một đồi cát thấp. Từ trên đồi, đạn địch vãi như mưa xuống đoàn chiến xa đang gầm gừ leo lên. Hỏa lực địch quá mạnh nên đại đội tiến chậm, mặc dù đã có lệnh ai tử trận hoặc bị thương thì cứ để nằm yên tại chỗ, đồng đội sống sót khỏi phải bận tâm tải thương hoặc giữ xác, cứ tiến tới mục tiêu cho kịp thời gian hạn hẹp còn lại. Chiếc M-48 bị sụp xuống một hũng cát bất ngờ, gầm rú một lúc hai xích sắt tung cát mù mịt cuối cùng mới gác đầu lên một gờ cát khá vững, trườn lên mặt cát bằng. Rồi chiếc M 48 lại lao về phía chốt. Nhưng chạy được vài mươi thước, chiếc chiến xa kềnh càng dậm phải mìn, rồi bốc cháy. Người lính thiết giáp và phụ xế vội vã nhảy ra khỏi đống sắt bốc lửa. Một người an toàn, còn một người quần áo bị cháy như cây đuốc sống. Viên xạ thủ vẫn còn ở trong xe. Cảnh tượng xảy ra trước mắt như liều thuốc kích thích Lãng, và từ đó, Lãng quên hết mọi điều. Có một sức thôi thúc huyền bí nào đó nhiều lần Lãng cảm thấy giữa chiến trận gay cấn đẫm máu nhất, sức thôi thúc mà Lãng không hiểu từ đâu, không giải thích được. Có lẽ là tổng hợp của mùì thuốc súng khét, mùi khói cay, mùi máu tanh của đồng đội và kẻ thù, cộng với cảm giác ngầy ngật của một thể xác căng lên quá độ vì lao lực và thiếu ngủ.

Tất cả những yếu tố đó hòa nhập vào nhau, đẩy Lãng vào một trạng thái đồng bóng liều lĩnh. Và chính sự đồng bóng liều lĩnh giữa cơn nguy hiểm lại giúp Lãng thoát cái chết trong đường tơ kẽ tóc. Kẻ dè dặt chọn đất rồi mới bước thường là kẻ sụp hố trước hơn ai hết. Cho nên sau nửa giờ xung phong chiếm chốt địch, Lãng vẫn an toàn mặc dù quân số đại đội hao hết một phần ba. Số tổn thất của Bắc quân còn cao hơn gấp bội. Không ai có thì giờ đếm những xác địch nằm rải rác trên mặt cát ướt. Chỉ có thì giờ đếm đủ bốn mươi Bắc quân bị bắt sống, vì Đại úy Thẩm phải báo cáo với “Tango” xin lệnh giải quyết ra sao với số tù binh này. Bộ Chỉ huy hành quân ở Gia đẳng cho biết sẽ có người khác lo dẫn giải tù binh về hậu tuyến, Đại đội Bốn phải lên thiết giáp ra thanh toán cho nhanh mục tiêu phụ trách.

Đại đội Bốn chiếm được chốt địch được phân công đúng 5 giờ chiều ngày 27-1, giải vây cho hai trung đội bạn bị địch cầm chân tại chốt ấy. Quân số chỉ còn một nửa lúc xuất quân hồi sáng. Sáu tân binh cùng ngồi chung xe M 113 Với Lãng, thì bốn người đã không còn dịp về Huế nhận vòng hoa của nữ sinh Đồng Khánh và Mai Khôi.

***

Lãng giơ cổ tay phải lên nhìn đồng hồ: sáu giờ đúng.Tiếng súng vẫn còn lắp bắp đây đó, nhưng không dày như nửa giờ trước. Trong công sự kiên cố hình chữ A của Bắc quân vừa chiếm được chỉ có Trung úy Huy Đại đội phó, anh hạ sĩ truyền tin, Lãng và Hùng Khùng. Cánh tay phải của Hùng bị băng vì vết thương nhẹ ở trên cùi chỏ, nhưng Hùng không chịu nằm lại chờ toán tải thương. Có quá nhiều kinh nghiệm chiến đấu, Hùng biết rõ trong trận đánh chạy đua với thời gian này, nằm lại trơ trọi trên bãi cát mênh mông nắm chắc phần chết hơn là đi theo đại đội. Không ai có thì giờ lo tải thương lúc chưa lấy được Cửa Việt trước tám giờ sáng hôm sau. Nằm yên một chỗ với khẩu M-16 và vài băng đạn là cái bia ngon lành cho những chú lính Bắc quân còn lạc ở phía sau, hoang mang thấy cái gì di động là nổ súng không cần phân biệt bạn thù. Mà số Bắc quân đi lạc sau khi thoát chết ở các chốt bị mất thì nhiều lắm, Hùng biết rõ điều đó.

Trong hầm tối đen. Trung úy Huy bật đèn pin soi quanh. Ngoài số quần áo bộ đội mầu cửt ngựa vải mỏng vất bừa bãi, còn hai khẩu AK-47, hai thùng đạn. Nhưng quí nhất là một hộp lương khô Trung quốc và hai bi đông nước. Trung úy Huy và anh hạ sĩ truyền tin vừa nhai lương khô vừa liên lạc với đại đội trưởng và bộ chỉ huy bằng máy PRC-25. Qua những câu đối đáp rời rạc bằng mật hiệu chỉ nghe có một phía, Lãng đoán được lệnh trên và tình hình chung: cả năm đại đội dự chiến đã lấy được các chốt phòng thủ bao quanh đồn Cửa Việt, và đợi trời tối hẳn tất cả sẽ lại bắt đầu tấn công tái chiếm đồn này trước 8 giờ sáng hôm sau. Lãng nói nhỏ với Hùng:

– Còn 14 giờ nữa nghe mày!

Hùng nói:

– Ừa! Đưa cho tao bi đông nước. Đù má! Tụi Việt cộng nó không biết dùng ly hay sao mà tìm mãi không ra cái ly nào hết!

Lãng nói:

– Mày bị thương, đừng uống nước nhiều!

– Đù má, ăn lương khô không uống nước chịu sao nổi.

Nói như vậy nhưng Hùng vẫn ngồi dựa vào vách hầm, không đòi nước. Trung úy Huy và anh hạ sĩ xong việc ngồi nhai lương khô. Cả bốn không ai nói gì, từng người bắt đầu cảm thấy thân thể rã rời, mắt ríu lại, chỉ muốn được ngủ.

Bên ngoài đêm đã về. Trời vẫn còn mưa, đêm có trăng, nhưng mờ. Hỏa châu từ đại bác 155 ly bắn lên, trái sáng bay cao và rơi chầm chậm nhưng ánh sáng hóa học mầu hoàng đởm chìm nghỉm trong thứ ánh sáng vàng nhạt của trăng và bãi cát, chỉ làm cho đêm chiến tranh cuối cùng hiu hắt và ảm đạm hơn.

Trong hầm, chỉ có một mầu tối đen, trừ ánh thuốc lá khi sáng lên khi lụi đi. Hầm có hai lối lên mặt đất ngoằn ngoèo chữ chi nên hơi lạnh không thoát được ra ngoài, không khí ngột ngạt và rét căm căm. Lãng hút hết điếu thuốc này đến điếu khác, cộng thêm khói thuốc của ba đồng đội càng làm cho không khí khó thở thêm. Hùng càu nhàu:

– Sao chưa dứt cái đồn khỉ gió đó mau cho rồi, ngồi đây làm gì không biết!

Trung uý Huy lắng nghe tiếng súng nổ lách chách bên ngoài, nói trõng:

– Các đại đội kia chưa lấy xong mục tiêu. Còn mấy giờ đồng hồ nữa, rán mà đợi đi mày! Cầm súng bóp cò được không?

Hùng đáp:

– Được, Trung úy.

Rồi Hùng cười giòn:

– Em tưởng bị thương thì được trực thăng chở đi liền như mọi khi.

Giọng Trung úy Huy hơi cáu:

– Đù má mày giả bộ bị thương hả?

– Không! Có bị, nhưng không nặng lắm. Như gãi ngứa thôi!

Máy truyền tin PRC-25 đột nhiên lao xao rồi phát một giọng Nam khao khao:

– 52-06, 52-06.

Anh hạ sĩ truyền tin bóp ống liên hợp trả lời:

– 06-52, 06-52

Từ bộ chỉ huy, có lệnh truyền qua máy:

– Thẩm quyền mày đi!

Anh hạ sĩ đưa máy liên hợp cho Trung úy Đại đội phó. Trung úy Huy nói:

– 06, tôi nghe!

Ba người lính cố đoán nội dung cuộc đối thoại, nhưng không đoán được hết ý nghĩa các mật số sĩ quan trao đổi nhau trên chiến trường.

Trung úy Huy nói xong đưa ống liên hợp cho anh hạ sĩ truyền tin. Im lặng khá lâu, ba người lính mới nghe ông đại đội phó nói:

– Đứa nào buồn ngủ thì rán ngủ lè lẹ đi. Đợi sáng tính!

Mặc dù nói vậy, nhưng chỉ vài phút sau, ông lại hỏi Lãng:

– Còn cà phê không Lãng?

– Hết rồi, Trung úy.

Ông Trung úy than:

– Có cái gì nong nóng uống cho đỡ rét. Tụi Việt cộng ưa uống trà đậm. Tụi bây bật quẹt tìm thử có gói trà nào không? Với lại biết đâu tụi nó giấu đèn đuốc đâu đó, thắp cho sáng một chút.

Hùng bật cái Zippo một tiếng cách nhỏ. Ánh sáng mờ yếu từ chiếc bật lửa sắp hết xăng chỉ đủ soi gương mặt xương xẩu của Hùng, và một vùng hầm hẹp. Căn hầm chật nên ba người phải nép sát vào vách hầm cho Hùng đi tìm trà. Nhưng không tìm được trà, Hùng lại tìm được cây đèn bão Trung quốc loại nhỏ. Căn hầm nhờ có ánh sáng trở nên ấm cúng hơn. Hơi lạnh dường như chỉ quen với bóng tối, mọi người cảm thấy dễ chịu hơn. Trung úy Huy chợt nhớ, hỏi:

– Tụi bây còn giữ đủ cờ đấy chứ?

Hùng cười nhỏ, hỏi đùa:

– Cờ trắng hả Trung úy?

Ông trung úy đột nhiên nổi giận:

– Mày còn nói cái giọng đó tao bắn nát óc!

Hùng ngớ ra, vì vẫn tưởng ông đại đội phó đã quen với lối nói đùa trái tai của mình, Lãng thấy không khí căng thẳng, chen vào hỏi:

– Họ phát cờ làm gì hở trung úy?

Có lẽ ông trung úy nhận ra mình giận Hùng quá đáng, nên dịu giọng đáp chung:

– Tụi bay nghe radio không biết chiến dịch cắm cờ giữ đất hay sao? Tới giờ ngưng bắn, chỗ nào có cờ là đất của mình. “Tango” bảo phát cho mỗi đứa hai lá cờ để đúng tám giờ sáng mai mình đang ở đâu thì giương cờ lên ở đó. Đứa nào ngon ngày mai kéo cờ trước tiên lên nóc đồn Cửa Việt, tao đãi một chầu Gò vấp.

Hùng mau miệng nói:

– Xì, Gò vấp chị em ta rẻ mạt. Trung úy hứa thưởng, em sẽ dẫn Trung úy tới một chỗ ở đường Yên đổ. Đã lắm!

Lãng nói:

– Chỗ đó dẹp rồi. Cũng vậy vậy thôi. Mày dân Cái mơn ra tỉnh thấy cái gì mà không đã!

Giọng Hùng tiếc rẻ:

– Dẹp hồi nào?

Lãng không đáp. Cả hầm lại im lặng. Đã quen với ánh sáng, bây giờ mọi người lại cảm thấy lạnh căm căm.

***

Có tiếng chân bước ở ngoài cửa hầm. Đêm yên lặng nên bốn người nghe rõ mồn một tiếng chân, theo dõi và đoán được người nào đó dừng lại trước cửa hầm, rồi chui vào lối vào hình chữ chi quanh co. Trung úy Huy nói:

– Lại có thằng chó nào ghiền thuốc lá liều mạng qua xin thuốc đây!

Mọi người nhìn về hướng cửa hầm chờ đợi. Một bóng đen lom khom hiện ra, và vì ngọn đèn bão quá nhỏ nên không ai nhận diện được người vừa vào là ai. Bóng đen đưa mắt nhìn quanh quang cảnh trong hầm một lúc, rồi nói:

– Địt mẹ khát nước quá. Chạy trốn chúng nó từ chiều tới giờ thoát chết mới về được tới đây. Có nước không các đồng chí?

Giọng Bắc kỳ gắt và chói! Bốn người ngồi im, mỗi người nghĩ riêng một cách phản ứng. Trung úy Huy lên tiếng trước:

– Chỉ có nước lã thôi, đồng chí ơi! Đồng chí ở đơn vị nào về vậy?

Người lính Bắc Việt mừng rỡ nói:

– Nước lã cũng được. Các đồng chí còn lương khô không? Địt mẹ đơn vị tôi tiêu gần hết! Bị bắt tới mấy chục mống. Tôi thoát được một mình chạy về đây. May quá. Sáng mai ngưng bắn rồi! Trước đây hai tuần tôi ở cái hầm này này!

Trung úy Huy nhỏm dậy, bước tới bên người lính Bắc Việt, đặt tay lên vai anh ta, cười nhỏ rồi đanh giọng nói:

– Địt mẹ chúng ông là lính ngụy thứ thiệt đây, đồng chí!

Người lính Bắc Việt ngước lên nhìn chằm chặp vào mặt ông đại đội phó, rồi nhìn ba người còn lại. Ngọn đèn bão không đủ soi rõ quần áo những người lính thủy quân lục chiến trong hầm. Người lính Bắc Việt cười lớn, hất tay Trung úy Huy ra, nói lớn:

– Thôi đùa như thế đủ rồi, đồng chí. Ai còn điếu thuốc lá nào không? Hay cậu nào còn thuốc lào?

Trung úy Huy nhanh nhẹn vớ khẩu M-16 lên kê vào màng tang người lính Bắc Việt, rồi chếch mũi súng lên miệng hầm bóp cò. Tiếng nổ làm mọi người giật mình, Lãng tưởng ông đại đội phó đã nóng nảy ra tay giết bớt một kẻ địch, còn người lính Bắc Việt thì ngỡ ngàng nhận ra rằng mình lại sa vào tay địch, và nếu còn hiểu biết nhận thức được điều gì chẳng qua là chút sống mong manh còn lại trước khi sụm xuống.

Khi biết ông trung úy chỉ bắn dọa, Lãng, Hùng và anh hạ sĩ truyền tin nổi lên cười rộ. Còn người lính Bắc Việt thì bắt đầu biết sợ. Anh ta xanh mặt, lo âu nhìn Trung úy Huy chờ đợi. Ông Đại đội phó vỗ vai anh ta, cúi nhìn đồng hồ rồi nói:

– Bây giờ mười giờ. Còn mười tiếng nữa thì ngưng chiến. Tôi tha cho anh sống để còn về với Bác và Đảng. À quên, về với Đảng thôi. Anh muốn đi thăm Bác không?

Người lính Bắc Việt đáp lí nhí:

– Thưa anh… Thưa anh…

– Không muốn theo Bác chứ gì? Được. Bây giờ anh ăn lương khô, uống nước, rồi phải để cho chúng tôi trói anh lại. Sáng mai ngưng bắn, lúc đó hai bên tính với nhau về tù binh ra sao, hãy hay. Thuốc lá nhé?

Người lính Bắc Việt e dè không dám trả lời ngay, nhưng cuối cùng cũng đáp:

– Vâng. Các anh có cho em một điếu.

Lãng chen vào hỏi:

– Hút thuốc đế quốc nhé?

Người lính Bắc Việt nhìn Lãng, không trả lời, chỉ gật. Lãng chìa bao Pall Mall ra. Khói thuốc lại bao trùm căn hầm. Nhưng không ai thấy ngột!

Nguyễn Mộng Giác

   Số lần đọc: 3512

Tác Phẩm

BÀI KỀ

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây