Nơi lưu giữ những tác phẩm của Nhà Văn Nguyễn Mộng Giác (1940-2012)

Nơi lưu giữ những tác phẩm của Nhà Văn Nguyễn Mộng Giác (1940-2012)

Trang NhàMùa Biển ĐộngTập 5 - Tha HươngMùa Biển Động - Chương 137

Mùa Biển Động – Chương 137

(Mùa Biển Động – Chương 137)

Trận sông Bồ làm cho Trung đội 2 bị thiệt hại quá nửa quân số. Bốn người chết, bị thương nặng nhẹ mười người. Truyền thống của Thủy quân lục chiến là trong mọi tình huống không bao giờ bỏ xác đồng đội ở chiến trường. Nhưng trong hoàn cảnh tan rã này, Thiếu úy Kiểu đành phải cho chôn gấp bốn người lính tử trận. Số người bị thương xin phương tiện mãi không có, đành phải võng hoặc dìu ra quốc lộ. Cả trung đội đi lẫn vào dòng người chạy loạn dần dần bị bỏ lại phía sau: May mắn vào phút chót gặp Đại đội Chỉ huy của Tiểu đoàn, Thiếu úy Kiểu gửi được những người bị thương nặng lên xe. Chín người vừa bị thương nhẹ vừa không bị thương còn lại, trong đó có Lãng, bắt đầu cuộc chạy việt dã để rán theo kịp Đại đội.

Lãng đến đầu cầu Bạch hổ lúc hai giờ khuya. Nhẩm tính lại, nếu phải có mặt ở Thuận an trước 6 giờ sáng như lời Thiếu tá Tiền nói, thì chỉ còn bốn giờ đồng hồ nữa để đi từ cầu Bạch hổ xuống bãi biển Thuận an. Lãng nhớ hồi còn đi học, mỗi cuối tuần cùng với bạn bè đạp xe đạp xuống Thuận an tắm biển từ nhà ra đi chỉ mất độ hai tiếng. Nhất là đi tắt bằng cách đi đò qua Tây thượng chứ không phải vòng lên phố qua cầu Trường Tiền rồi vòng trở xuống ngã Đập Đá. Lòng Lãng chợt rộn lên khi nghĩ: “Tại sao không nhìn lại căn nhà cũ, rồi xuống Thuận an theo ngã Cồn Hến?”

Lãng hết thấy mệt mỏi, gần như chạy lúp xúp xuống đường Trần Hưng Đạo. Phố xá vắng hoe, đèn đường hư gần hết chỉ còn vài ngọn chụp ánh sáng vàng bệch xuống mặt đường đầy rác rếnh. Ngoài bến Phú văn lâu, nhiều chiếc thuyền vẫn còn đậu ở cách sông vài chục thước, có lẽ sợ trong hỗn loạn có người sẽ xuống cướp thuyền. Cửa phố đóng. Chỉ có cái quán nhỏ vách mái tôn lưng dựa vào tường thành Phú văn lâu còn le lói ánh đèn.

Một cụ già cầm cây đèn dầu giơ lên cao nhìn đám đông đi qua. Trước đó, Pháo binh đã được lệnh chọn những tọa độ không có người ở bắn vài quả vào thành phố để dân chúng sợ mà rời khỏi Huế. Đêm nay, chính Bắc quân nã đạn 130 ly vào Huế, nhiều quả dường như nhắm vào cầu Trường Tiền nhưng trật đích rơi xuống sông. Lãng nhìn nét mặt buồn rầu của bà cụ, lòng tự nhiên xúc động. Lãng dừng lại trước ánh đèn dầu, hỏi:

– Tụi nó sắp chiếm Huế rồi. Sao mệ còn ở đây?

Giọng bà cụ như sắp khóc:

– Tiền bạc mô mà đi, cháu!

– Mệ đi với con đi. Xuống Thuận an để sáng mai lên tàu về Đà nẵng.

– Thôi, mệ cảm ơn cháu. Mệ già rồi, chết ở đây cũng được!

Lãng lặng người, bịn rịn nhìn vào cái quán không rồi bỏ đi.

Đoàn người đến đầu cầu thì rẽ phải để qua cầu Trường Tiền nên phía trước, đường Trần Hưng Đạo trống trơn, như một phố ma. Vài toán đàn ông, con nít dùng xe ba gác, xe cyclo lục lạo phá cửa những cửa hàng vắng chủ để hôi của. Một nhóm dùng súng bắn ổ khóa một tiệm tạp hóa lớn trước tiệm cà phê Lạc Sơn rồi bỏ chiếc xe ba gác ngoài lề đường, chạy ùa vào bên trong hai cánh cửa sắt. Lãng nhanh trí cướp chiếc xe ba gác đạp nhanh xuống cầu Gia hội. Phải nhìn lại lần cuối căn nhà Lãng đã sinh ra, lớn lên, nhìn lại cái bến tắm sau vườn, nhìn lại cả tuổi thơ ở đây. Lãng biết chắc vĩnh viễn về sau Lãng không còn cơ hội nào để trở về Huế nữa. Chắc chắn ngày mai Huế sẽ mất về tay Bắc quân.

***

Phố Gia hội còn tang thương hiu quạnh hơn cả phố Trần Hưng Đạo. Hai dãy nhà đứng chết lặng, không có bóng của sự sống. Vài trăm thước mới có một ngọn đèn đường còn leo lét sáng. Lãng rướn người đạp chiếc xe ba gác phóng nhanh hết đường Chi lăng, vượt qua căn nhà cũ lúc nào không hay. Lúc nhận ra mình lầm, quay xe trở lại, Lãng ngơ ngác không tìm ra căn nhà cũ nữa. Cho xe chạy thật chậm, lấy mốc là những căn nhà lân cận và quán tạp hóa nằm xế phía trước, cuối cùng Lãng mới định đúng chỗ căn nhà xưa. Lãng quặn đau trong lòng, chợt thấy mình lẩm cẩm. Ngôi nhà xưa Lãng tìm đã sập gần hết từ hồi Tết Mậu Thân, sau tai họa bi thảm ấy chỉ còn lại một nửa chưa bị sụp và một khu vườn xơ xác trống trải. Khu vườn và cái nhà đổ nát đã đổi hai ba đời chủ, chủ mới san bằng di tích cũ xây hẳn một phố lầu hai tầng, mặt tiền áp sát mặt đường để thuận tiện việc mua bán. Khoảng sân nhỏ, và cả cái vườn sau đã bị mất dưới khối xi măng cốt sắt.

Lãng cảm thấy rã rời, cố đạp xe trở về phố. Thôi như vậy là mất tất cả. Mất hết, mất vĩnh viễn. Lãng vứt chiếc xe ba gác trước chợ Đông ba, rồi đi bộ lên phía đầu cầu.

Địch vẫn câu đạn 130 ly vào cầu Trường Tiền, nhưng đã tới lúc người ta không còn biết sợ là gì nữa. Người ta cứ chen nhau đi hết đợt này tới đợt khác ùn ùn qua cầu. Lãng qua khỏi cầu Trường Tiền, vừa định rẽ trái về phía Đập Đá thì bị những tiếng “dô, dô” ồn ào huyên náo ở phía bên kia đường (ngay vỉa hè trước trường Đại học Khoa học Huế) kéo ngược Lãng lại. Một cảnh tượng kỳ dị không giống ai: dưới ngọn đèn đường ở ngã tư, năm sáu người lính Thủy quân lục chiến đang điềm nhiên ngồi xếp bằng trên nền xi măng mà nhậu. Lãng bỏ đoàn người, qua đường. Trong đám nhậu có cả Trung úy Huy. Lãng mừng quá, kêu to:

– Ông thầy, sao ông còn ngồi đây!

Trung úy Huy tay cầm cổ chai bia 33 ngơ ngác nhìn người lạ. Lãng tới gần hơn. Ông nhận ra Lãng. Ông hỏi:

– Đù mẹ tụi bây chạy được cả chứ? Tụi nó đâu?

Lãng chạy tới ôm chầm viên trung úy, cổ họng nghẹn lại không trả lời được. Và Lãng khóc. Trung úy Huy vừa cảm động vừa ngạc nhiên vì ông chưa bao giờ thấy thằng em út trời đánh này yếu ớt đến như vậy. Ông vỗ nhẹ lưng Lãng, vừa cười vừa trách:

– Đù mẹ mày sợ chết lắm hay sao mà khóc?

Lãng tách người ra khỏi Huy, cố giải thích:

– Không phải đâu, Trung úy. Em vừa đi qua nhà cũ.

– Lại còn có giờ thăm nhà nữa à! Thằng này chì thật.

Không muốn bị cật vấn thêm, Lãng hỏi:

– Sao quần áo Trung úy ướt mèm vậy?

Trung úy Huy cười sảng khoái, chỉ mấy két bia 33 bên cạnh:

– Tụi nó lấy xe ba gác quơ đâu được vô khối thuốc Ruby với bia 33. Mày thấy không, cả đống, không nhậu trước khi xuống tàu cũng uổng. Tao tắm bằng bia cho biết.

Lãng cười, quên cả nỗi buồn vừa qua, hỏi:

– “Đã” không Trung úy?

– “Đã” cái con khỉ. Dại không chịu được. Rít thấy mẹ! Ngồi xuống đây làm vài chai rồi hãy tính.

Bốn người lính kia ở tiểu đoàn khác nên Lãng không quen họ. Đồ nhắm không có, họ chỉ uống khan. Không có đồ mở nắp chai, khi uống họ dập cổ chai vào mép lề đường, rồi dốc ngược chai bia 33 rót rượu vào miệng để tránh mảnh chai nhọn. Ngồi thêm nửa giờ nữa thì số lính Đại đội 3 nhận diện nhau thêm mười hai người, kể cả Trung úy Huy và Lãng là mười bốn. Họ lại đi. Qua khỏi Đập Đá được một đoạn, thì đám người chạy loạn dồn cục ở một ngã ba. Nhiều người lính từ Thuận an quay ngược trở lên. Tìm hỏi, Trung úy Huy mới biết kho đạn và kho xăng ở Thuận an đã bị cháy, điểm hẹn tàu đón vì vậy đã đổi. Thay vì Hải quân đón anh em Thủy quân lục chiến ở bãi Thuận an, nay điểm tập trung là bến phà Tân Mỹ.

Con đường đất đỏ ở ngã ba này là đường về phía bến phà. Những người nhanh chân đi trước về Thuận an đã phải quay trở lại, gặp những người chậm chân ở ngã ba định mệnh này.

***

Vì đi lạc nên mãi 11 giờ trưa toán Thủy quân lục chiến của Trung úy Huy mới vượt được qua phá Tam giang đến địa điểm tập trung. Đấy là một ngôi làng nằm bên một đụn cát cao che khuất gió biển, nhà cửa lụp xụp tạm bợ nằm núp dưới những cây dương liễu. Con đường đất chạy xuyên qua làng bị cát thổi lấp nhiều chỗ, đi lại khó khăn, từ làng nhìn ra chung quanh toàn nước là nước. Trừ đụn cát làm bình phong che gió biển đông, phía bắc là cửa Thuận an, phía nam là cửa Tư hiền, phía tây là phá Tam giang. Trời đang nắng đột nhiên mây xám ở đâu kéo về, gió nổi lạnh và bắt đầu lất phất mưa. Rượu bia thấm ướt bộ đồ trận của viên trung úy đã khô đi nhờ hơi nóng thân thể lúc đi đường và nhờ ánh nắng, bây giờ mưa làm ướt trở lại, một mùi chua chua tỏa ra nồng nặc.

Lần lượt có thêm nhiều người thuộc Đại đội qua phá. Trừ những người chết ở sông Bồ, những người bị thương di chuyển theo toán tải thương của Tiểu đoàn, kiểm điểm lại Đại đội chỉ còn thiếu binh nhất Tuấn thuộc Trung đội 1, xạ thủ đại liên M-60.

Nằm nghỉ ở ngôi làng ven biển ấy gần một giờ thì Đại đội được lệnh di chuyển ra bờ biển. Vừa bước ra khỏi đụn cát, mọi người đều ồ lên reo hò mừng rỡ. Trước mặt họ, đậu cách mép nước chừng năm trăm thước là một chiếc tàu hải quân lớn, đủ sức chở gọn cả Lữ đoàn Thủy quân lục chiến. Tàu đậu gần nên Trung úy Huy đọc được cả hàng số HQ-801 trên hông và mũi tàu. Lãng đứng bên cạnh xếp lo ngại nói:

– Chiếc tàu nhỏ quá, ông thầy!

Trung úy Huy cau mày đáp:

– Tàu như vậy mà mày chê nhỏ.

– Họ đứng đầy ở bờ biển, ai đi ai ở. Trung úy thấy không? Dân với lính đơn vị khác tụ tập chỗ kia kìa, cả vạn người là ít.

Trung úy Huy nhìn theo hướng Lãng chỉ. Đúng như Lãng nói. Xê về phía nam, dân chạy loạn và lính tráng tụ tập ngay sát mép nước, đen đặt cả một bãi cát dài. Trung úy bắt đầu nghĩ tới chuyện lên tàu không phải là việc dễ dàng. Tàu lớn không thể vào sát bờ, sóng không lớn lắm nhưng chuyển được người và vũ khí từ bờ ra tàu không phải là dễ. Thêm nữa, trật tự đã mất không còn ai chỉ huy được ai, làm sao ngăn được cảnh chen lấn dày xéo nhau để lên tàu. Ông nói với Lãng, nhưng thật ra là để tự trấn an:

– Chiếc 801 đến đón lữ đoàn mình chứ không phải để rước bất cứ ai. Thế nào tụi mình cũng được ưu tiên, để mày coi.

Lời tiên đoán của Trung úy Huy có vẻ đúng. Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng nhận lệnh của Lữ đoàn bảo các đại đội tập họp thành nhóm theo hàng ngũ tề chỉnh. Mỗi trung đội xếp một hàng dọc, ban chỉ huy đại đội thì cũng xếp một hàng dọc ngắn ngay bên các lính của mình. Hàng ngũ chỉnh tề, lưng quay ra biển cả lữ đoàn thủy quận lục chiến lấy lại được phong thái kỷ luật đã mất trong mấy tuần qua.

Lãng đứng trong hàng nhìn thẳng về phía doi cát cao trước mặt, lâu lâu chớp mắt để làm rơi những giọt mưa nhỏ bám vào lông mày. Những ngọn dương liễu vượt cao khỏi doi cát ngả nghiêng theo chiều gió, như ngoẻo đầu nhìn hàng lính chuẩn bị xuống tàu. Lãng đứng im thật lâu, rồi đột nhiên nếm thấy nước mưa chảy từ trên má xuống môi mình có vị mặn. Lãng khóc lúc nào không biết. Phải rồi. Lúc cảm thấy an toàn, lúc biết chắc không còn gặp những bất trắc trên đường rút lui và chỉ ít lâu nữa sẽ thơ thới lên chiếc tàu sắt kia để vào Đà nẵng, Lãng mới cảm thấy đứt ruột vì sắp lìa xa mãi mãi nơi chôn nhau cắt rún này.

Trong hơn mười năm đi lính, Lãng đã đi nhiều nơi, bị thương nhiều lần, Lãng chỉ loanh quanh từ đèo Hải vân trở ra mà thôi. Trừ bãi cát này, có thể nói chưa có vùng đất nào của Thừa thiên, Quảng trị Lãng chưa đặt chân tới. Vậy mà Lãng sắp lìa bỏ cái vùng đất đau thương mà yêu thương ấy, nhất là lìa bỏ Huế.

Các sĩ quan được lệnh kiểm điểm quân số để báo cáo lên Lữ đoàn. Thấy một số thân nhân lính Thủy quân lục chiến vẫn cứ bám sát hàng quân không chịu đi ra xa, Trung úy Huy quát:

– Mấy người kia tránh ra đi. Ai không phải lính của đại đội 3 không được đứng trong hàng.

Bốn người đàn bà và một em nhỏ trai tách ra khỏi hàng lính. Đội ngũ nhờ vậy trông thuần nhất hơn, chỉ toàn một màu quần áo rằn ri của Thủy quân lục chiến. Nhớ lại tác phong cũ, từng người sửa lại quần áo cho ngay ngắn, người cao đứng trước thấp xếp hàng ở sau. Trung úy Huy nhắc Thiếu úy Thành và Thiếu úy Kiểu:

– Đừng cho người lạ chen vào hàng. Khi lên tàu cũng vậy.

Ông chợt thấy mấy người cũng mặc quần áo rằn ri nhưng lạ mặt trong hàng của Trung đội 2. Trung úy Huy hỏi:

– Hai anh này ở đơn vị nào lại lọt vào đây.

Cả hai đều đáp:

– Em thuộc Đại đội 3 của Trung úy.

– Láo. Đại đội tao sao tao không biết mặt.

Lãng đứng trong hàng nói:

– Họ được Tiểu đoàn gửi tăng cường lúc đánh ở sông Bồ, Trung úy.

Thiếu úy Kiểu cũng nói:

– Lính mình đó Trung úy. Nhờ vậy quân số mới còn được bấy nhiêu.

Trung úy Huy đảo mắt nhìn một lượt nnhững người còn lại của Trung đội 2. Thêm một lính lạ nữa đứng ở cuối hàng, dù anh ta cao hơn hai người đứng trước. Lại thêm một chú lính được tăng cường ngay tại trận địa. Ông định quay đi, nhưng chợt thấy có điều gì không ổn. Người lính lạ cũng mặc đồ rằn ri, cũng mang băng tên màu đỏ của Tiểu đoàn. Tuy nhiên, băng tên màu đỏ mỗi người lính đều có con số đại đội, trong khi bảng tên người lính lạ mang lại không có số, tức là thuộc đại đội chỉ huy. Lính thuộc đại đội chỉ huy Tiểu đoàn sao lại xếp hàng ở đại đội này. Ông gọi Thiếu úy Kiểu, hỏi nhỏ:

– Thằng đứng ở cuối hàng là lính mới tăng cường à?

Thiếu úy Kiểu nhìn về phía người lính một chút, lắc đầu nói:

– Không. Chắc lính binh chủng khác mặc áo binh chủng mình để dễ len lên tàu. Tụi nó biết mình được ưu tiên.

Trung úy Huy nói:

– Ông gọi nó lại đây.

Thiếu úy Kiểu tới cuối hàng của Trung đội 2 nói gì đó với người lính lạ, rồi hai người tiến về phía Trung úy Huy. Ông Huy đanh mặt hỏi:

– Mày ở đâu trà trộn về đây?

Người lính lạ đứng thẳng, nét mặt bình tĩnh, đáp:

– “Báo cáo” Trung úy…

Trung úy Huy chộp cổ áo người lính, la to:

– Đù mẹ mày, “báo cáo” với “báo công”. Mày trà trộn vào đây làm gì mà không sửa cách nói lại cho đúng. Dẫn nó lên cho Thiếu tá.

Cả đại đội bàn tán xôn xao nhìn theo cảnh Thiếu úy Kiểu nắm vai người lính phía địch trà trộn vào hàng ngũ mình. Từ chỗ Tiểu đoàn bộ đóng, hai người lính mũ xanh dẫn kẻ xâm nhập về phía đụn cát, rồi cả ba chìm khuất phía sau đụn cát cao. Một loạt súng nổ, tiếng nổ đơn độc nhỏ nhoi chìm khuất nhanh giữa tiếng sóng vỗ và tiếng gió rít trên những ngọn dương liễu.

***

Cả lữ đoàn Thủy quân lục chiến cứ tập họp theo đội ngũ như vậy suốt bốn tiếng đồng hồ mà không có lệnh cho xuống tàu. Chiếc HQ-801 vẫn đậu tại chỗ phía sau lưng, thân tàu bập bềnh trên mặt nước biển màu xám đục. Đám lính trận chỉ cố giữ được thế đứng nghiêm chỉnh trong thời gian đầu. Đứng lâu mỏi chân, vài người bắt đầu ngồi chồm hổm trên cát ướt. Rồi ai cũng ngồi xuống tại chỗ, quay vào nhau nói chuyện hoặc lục ba lô ra lấy gạo sấy nhai đỡ đói. Những thân nhân của lính cũng xáp lại gần, ở xa trông như một cái chợ chồm hổm, tuy là một cái chợ còn có hàng ngũ.

Đám dân và lính chạy loạn lúc nãy, bu quanh chỗ lữ đoàn xếp hàng vì tò mò hoặc chờ đợi Thủy quân lục chiến xuống tàu thì ùa theo, bây giờ cũng tản mát xa dần. Cảnh bờ biển lộn xộn dân với lính từng nhóm đứng sát bờ biển chuyện vãn hoặc chỉ trỏ về phía chiếc tàu. Bốn chiếc M-113 không biết đến được bờ biển từ hướng nào đậu cách chỗ tập họp của Thủy quân lục chiến không xa, ba chiếc nằm sát mé nước, một chiếc chạy tung tăng đùa nghịch trên bãi sát chân đụn cát. Xích xe M-1 13 làm cát tung tóe như một đám khói vàng, để lại vết lún sâu phía sau lưng.

Tuy nóng ruột, không ai dám hỏi vì sao họ phải ngồi trên bờ mấy giờ liền mà không cho xuống tàu ngay. Lúc ba giờ, đám đông trên bãi biển náo loạn, ơi ới gọi nhau chuẩn bị khi thấy Thiết giáp cho dùng xe tăng lội nước M-113 chở thương binh ra tàu. Số người bị thương của Trung đội 2 đi được theo phương tiện đó. Chuyển xong số thương binh ra, cả lữ đoàn không ai bảo ai đua nhau cột lại ba lô, xốc lại quần áo, nghĩ giờ khởi hành sắp tới. Không ai nghĩ họ sẽ được chuyển ra tàu bằng cách nào. Sóng đập vào bờ cao hơn buổi trưa, nhưng biển như thế này không phải là biển động. Chờ hồi lâu sau khi chuyển thương binh xong, vẫn không thấy lệnh lạc gì. Các sĩ quan cao cấp của Lữ đoàn đứng trên bãi cát cười nói vui vẻ, ông đại tá quần áo thẳng thớm sạch sẽ vừa nói chuyện vừa bập bập đầu ống vố. Phong thái thản nhiên ấy làm cho đám lính ngồi chờ vừa tò mò thắc mắc, lại vừa có cớ để yên tâm. Chắc chắn đã có kế hoạch rút ra tàu như thế nào đó, đề phòng cảnh chen chúc hỗn loạn có thể xảy ra.

Lãng đem tút thuốc Ruby được Trung úy cho hồi khuya ra phát cho anh em trong trung đội. Là lính cựu nhưng không cấp bậc gì vì bị phạt quá nhiều củ, Lãng được những bạn đồng ngũ xem như anh cả. Cả trung đội, trừ Thiếu úy Kiểu bị động viên đi Thủ đức, không có ai suýt soát ba mươi như Lãng. Họ lại biết Lãng thân tình với Trung úy Huy, nên ngay Thiếu úy Kiểu cũng có ý nể Lãng. Vì vậy, khi cả Đại đội 3 cũng như các đại đội khác đều nhổm dậy bàn tán vì từ đầu bãi một số lính xúm nhau đẩy mấy chiếc ghe chài nằm trên bờ xuống nước để ra tàu, làm nao nức cả một góc biển, Lãng chỉ nạt lên một tiếng là cả trung đội chịu ngồi yên tại chỗ. Sau đó, đôi người lên tiếng phàn nàn:

– Đi thì đi mẹ nó cho rồi, ngồi ở đây chờ Việt cộng nó tới à!

– Chừng ấy con người thì đi ra tàu bằng cách nào? Lội có tới không?

– Sao không trưng dụng mấy chiếc xe lội nước với mấy cái ghe đó chở tụi mình ra trước?

– Tụi mình mỗi đứa còn không đầy mười viên đạn, lỡ tụi nó tới làm sao?

Ba chiếc ghe chở người ra tàu, rồi trở vào bờ. Cảnh chen lấn giành chỗ bắt đầu. Cát bụi bay mù ở chỗ mấy chiếc ghe vừa cập bờ. Bên Đại đội 2, vài người lính Thủy quân lục chiến xin rời hàng vào phía bên kia đụn cát đi tiêu. Bên Đại đội 3 cũng có người xin đưa thân nhân vào làng tìm mua lương thực. Họ đi lâu không thấy trở lại. Trung úy Huy cau mặt ra lệnh cho Thiếu úy Thành và Thiếu úy Kiểu tuyệt đối không cho phép ai rời hàng nữa. Từ bên kia đụn cát, một người lính Thủy quân lục chiến trở về. Dáng đi xiểng tảng, vai lại vác khẩu M-60, không phải những người vừa bỏ hàng định lẻn lên phía đầu bãi chen lên ghe ra tàu trước đồng đội, mà là binh nhất Tuấn.

Lãng nhận ra được người bạn đồng đội cuối cùng bị thất lạc đơn vị, mừng quá bỏ hàng chạy vô đón Tuấn. Bộ đồ trận của anh binh nhất dơ dáy đầy bụi và máu. Tay trái anh bị đạn ở gần bả vai, cánh tay bị thương bỏ thõng làm cho đôi vai anh bị lệch hẳn sang một bên, nhưng trên vai phải vẫn còn khẩu đại liên M-60, nửa dây đạn lòng thòng đong đưa theo nhịp bước xiêu vẹo.

Thiếu úy Thành và Lãng đỡ hai bên hông Tuấn đưa về hàng. Mặt Tuấn tái nhợt, nhưng vẫn cố mỉm cười để giấu cơn đau. Anh binh nhất thều thào nói với Trung úy Huy:

– Em đi đoạn sau bị phục kích. Tụi nó đông lắm Trung úy. Chắc là tụi chủ lực chứ không phải du kích. Tụi nó đã tới phía bên kia phá.

Trung úy Huy gọi y tá đến băng bó cho anh binh nhất, nôn nóng hỏi:

– Lính mình còn kẹt bên đó nhiều không?

– Binh chủng mình thì không. Bộ binh bên đó còn nhiều lắm. Em sợ mất súng bị củ, đáng lẽ phải bỏ lại cho họ xài.

***

Chiếc HQ-801 phun khói đen lên trời, rồi từ từ di chuyển. Chiếc tàu nằm ngang song song với bờ biển dần dần xoay dọc, số hiệu tàu dẹp dần lại, cuối cùng mất hẳn. Cả bờ biển nổi dậy những lời bàn tán. Những chiếc ghe chở người ra không trở lại, nên cả bãi dồn lại từng nhóm bao quanh lữ đoàn Thủy quân lục chiến chờ động tịnh. Họ phỏng đoán giữa chiếc tàu vừa nhổ neo với đám lính Thủy quân lục chiến đang tập họp ở đây thế nào cũng có một kế hoạch ngầm với nhau. Có thể chiếc tàu thấy không thể vớt được hết số người trên bãi nên đã tạm thời quay ra khơi, hẹn vớt lữ đoàn Thủy quân lục chiến ở một bến khác. Cứ đi theo lữ đoàn này là ăn chắc.

Nhưng ngay cả những người lính Thủy quân lục chiến cũng không biết vì sao họ phải chờ lâu và vì sao đột nhiên tàu ra khơi. Họ chỉ yên tâm hơn các toán lính Bộ binh rã ngũ và dân chạy loạn ở chỗ họ biết chiếc HQ 801 đến đây là cho họ, vì họ. Những điều khác đều mù mờ, khó hiểu.

Lại có lệnh di chuyển. Lãng reo to:

– Xong rồi tụi bây! Tụi mình tới chỗ tàu vào vớt đi!

Người lính đứng trước Lãng nói:

– Chỗ nào? Họ cứ bám theo sát gót mình, còn chỗ nào bí mật đâu mà vớt riêng tụi mình được.

Lãng xịu mặt thất vọng. Đúng như người lính nói, từ khi chiếc HQ 801 quay mũi ra khơi, đám đông dân với lính lẫn lộn đã tụ hết tới đây, chen chúc nhau ở dưới đụn cát canh chừng lữ đoàn Thủy quân lục chiến. Họ đã sẵn sàng đi tới bất cứ nơi nào Thủy quân lục chiến đi tới, đồ đạc hành lý mang sẵn theo người.

Lệnh bảo các đại đội cứ xếp hàng một men theo bờ biển đi về hướng nam. Cả lữ đoàn đã mất hẳn trật tự lúc đầu, hàng đi không thẳng, bước chân rã rời, Trung úy Huy ở ngoài hàng nhìn bao quát cả đoàn trông giống như một con rắn uốn mình lười biếng trườn chậm trên nền cát. Đám đông cũng chậm rãi theo bén gót lính mũ xanh. Bên kia phá, súng nổ dòn hơn, tương phản với cảnh dạo mát tà tà ở bên này phá. Đi độ gần một tiếng đồng hồ thì có lệnh dừng lại. Mọi người thêm hoang mang, quay nhìn phía biển thì chiếc HQ-801 đã đậu lại nhưng tít mãi ngoài xa khơi, không có dấu hiệu nào chứng tỏ con tàu lại sắp vào bờ. Lệnh cho ngồi xuống nghỉ. Thì ngồi. Hàng ngũ lộn xộn tuy vẫn có một khoảng bãi rộng phân cách giữa đoàn lính mũ xanh với đám đông đi theo.

Càng ngày càng có nhiều người lính dựa đầu lên ba lô nằm ngay trên cát ướt nghỉ mệt và cố quên nổi chán chường hoang mang. Vài người moi bịch gạo sấy ra nhai, lòng bắt đầu lo vì khẩu phần lương khô chỉ còn đủ cho ngày hôm nay. Trung úy Huy nhìn đội ngũ đại đội mình giống như một đám tàn quân nằm ngồi lôi thôi lếch thếch, nhưng ông cũng không còn lòng dạ nào quát bảo họ giữ quân phong quân kỷ. Ông cằn nhằn với Thiếu úy Thành:

– Tao đéo hiểu nổi. Chạy thì phải chạy lẹ đi, chứ tà tà kiểu này là làm sao? Còn đạn đâu mà tính chuyện đánh.

Thiếu ủy Thành nói, giọng yếu xìu:

– Chắc mấy ổng có kế hoạch gì đó. Trông họ tỉnh bơ, thấy không?

– Kế hoạch mẹ gì. Không khéo tụi nó qua nhúm trọn cả lũ.

Lại có lệnh của Lữ đoàn. Mỗi đại đội từ vị trí đang ngồi tiến hàng ngang vào đụn cát dàn tuyến phòng thủ qua đêm. Lúc ấy là sáu giờ chiều. Trời bắt đầu tối. Mưa đã ngót từ lâu. Ngoài biển chiếc HQ-801 chỉ còn là một chấm đen lúc ẩn lúc hiện trên làn nước xám. Đèn trên tàu chớp nháy như trêu ngươi những người ở trong bờ.

***

Lãng xốc ba lô mang lên vai, phất tay la lớn:

– Thôi, vào trong kia tìm chỗ xả hơi, tụi bây.

Những người lính đang nằm ngồi quanh Lãng kẻ nằm nán thêm đôi phút nhìn con tàu ngoài khơi, kẻ tiếp tục nhai cho hết nắm gạo sấy. Phải mất mười lăm phút mọi người mới đứng dậy. Sau đó, họ chậm rãi tiến về phía đồi cát trước mặt, bước chân nặng nề rã rời gần như không rút lên nổi khỏi đám cát lún.

Cả lữ đoàn đi được quá nửa bãi cát thì đột nhiên từ những lùm dương trên đồi cát, địch phục kích sẵn nã súng xối xả xuống đám lính Thủy quân lục chiến. Cả một góc trời nhốn nháo hỗn loạn. Người có kinh nghiệm chiến trường thì nằm ngay tại chỗ, chụp mũ sắt lên đầu hờm súng tìm ra chỗ khai hỏa. Nhưng số người giữ bình tĩnh được trong hoàn cảnh này không nhiều. Số lớn còn lại, cả dân lẫn lính, sau khi nằm dồn cục một chỗ để tìm an toàn lại nhổm dậy chạy tán loạn, tiếng kêu khóc của đàn bà con nít chen lẫn với tiếng súng AK dẹt và chát. Vài loạt đạn M-16 bắn trả về hướng đồi dương. Mấy chiếc M-113 sau thời gian nằm chết dí một chỗ vì bất ngờ, dần dần lấy lại tự tín, chạy dọc theo bờ biển bắn loạn xạ về phía mấy lùm dương.

Trung úy Huy hét đám con cái của mình:

– Tụi bây ở yên một chỗ chuẩn bị. Tao phất tay thì bắt đầu bắn, rồi chạy tới cho được chỗ kia. Sẵn sàng chưa? Tới.

Đại đội 3 có được người chỉ huy cảm thấy vững tâm hơn. Cả đại đội theo kinh nghiẹm chiến trường bắn yểm trợ cho nhau để tiến tới. Đến được chỗ Trung úy Huy chỉ, không ai bị thương cả.

Hai người lính Thủy quân lục chiến đang mất tinh thần cầm súng chạy khơi khơi dọc theo bờ biển, thấy Đại đội 3 phản ứng đúng bài bản cũng nhập theo. Một người chạy đến nằm cạnh chỗ Lãng, ngay sau một đụn cát thấp. Lãng hỏi:

– Ông ở đâu?

– Đại đội Chỉ huy Tiểu đoàn. Đại đội trưởng Đại đội 4 tiêu rồi. Cả Tiểu đoàn phó cũng banh. Ngay loạt đạn đầu. Tụi nó phục kích sẵn mà mình cứ khơi khơi dẫn xác tới, nản quá!

– Ông còn đạn không?

Người lính xem lại khẩu M-16 đang đặt sát bên hông. Súng chưa mở khóa an toàn, mà cũng chưa lắp gắp đạn vào ổ cơ bẩm. Người lính ngượng nghịu ra mặt, sau đó vỗ vào túi áo trận nói:

– Nhưng tôi còn hai quả lựu đạn. Tụi nó chắc đông lắm.

Lãng lắc đầu chán nản. Thiếu úy Thành núp ở lùm dương thấp cách Lãng chừng mười thước nói to cho Lãng và những người nằm gần đó nghe:

– Tụi bây chuẩn bị. Hễ có phát súng lệnh của Trung úy thì xung phong một lượt lên chỗ mấy cây dương kia. Nhớ la cho to, và tiết kiệm đạn.

Phát súng lệnh nổ không lớn lắm, gần như mất hút giữa những tràn AK-47 và cối của địch. Nhưng tiếng hô xung phong thì vang động cả một góc trời. Bắc quân núp phục kích ở ngọn đồi cát nghe tiếng hô sấm động mất tinh thần, vội vã bắn chận hậu để rút sâu vào trong làng.

Tiếng đạn địch thưa thớt hẳn. Lữ đoàn Thủy quân lục chiến lập một tuyến hình vòng cung bao vây đoạn bờ biển, dựa vào triền dốc bên kia của đồi cát để quan sát đề phòng địch mở những cuộc công khác trong đêm nay.

Cát mềm nên việc đào công sự và giao thông hào không mấy khó khăn. Trung úy Huy ra lệnh kiểm điểm xem từng người còn được bao nhiêu đạn. Không ai còn quá được một băng đạn M-16.

Trung úy ra lệnh cử người bò qua những đơn vị khác xin thêm đạn hoặc nhặt những súng đạn người ta vất bỏ trên bãi biển. Đạn trở thành quí giá còn hơn gạo sấy, nước uống và thuốc hút.

Những mũ sắt đựng đạn vấy cát được chuyển tới từng hầm. Lâu lâu từ phía làng, địch vẫn bắn những loạt súng cối hoặc đại liên về phía lữ đoàn, ánh lửa đạn xẹt ngang dọc trên bầu trời ở tầm thấp. Sau lưng, bãi biển bây giờ hoàn toàn vắng vẻ, chỉ còn vương vãi khắp đây đó những quần áo, giày dép, giỏ xách bị vất lại. Đêm tối dần, nhìn ra khơi chỉ thấy ánh đèn chiếc tàu nhấp nháy.

Nguyễn Mộng Giác

   Số lần đọc: 23

Tác Phẩm

BÀI KỀ

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây