Nơi lưu giữ những tác phẩm của Nhà Văn Nguyễn Mộng Giác (1940-2012)

Nơi lưu giữ những tác phẩm của Nhà Văn Nguyễn Mộng Giác (1940-2012)

Mùa Biển Động – Chuơng 25

Mặc dù không có vinh dự đứng ở tuyến đầu trực diện với kẻ thù, không được là con mắt bão, nhưng Huế không mất chút nào niềm tự cao tự đại cố hữu. Huế thức dậy trước hơn ai hết trong cuộc vận động lật đổ Ngô triều, thì có lý nào đến bây giờ, khi Sài gòn phải nhượng bộ chịu rút quân về, Huế lại không tiếp tục cầm đuốc soi sáng dẫn đường cho giai đoạn tranh đấu mới.

Các lãnh tụ Phật giáo quan trọng đều ở Huế. Viện Ðại học ở Huế cũng hoài bão và hy vọng của một lớp trí thức trẻ tuổi, tốt nghiệp từ Pháp, Mỹ về có, mà tốt nghiệp tại quốc nội cũng có. Còn thành phố nào lý tưởng hơn để làm bộ óc nhìn xa trông rộng cho một khúc quanh lịch sử!

Thành thử khác với không khí náo động kiêu binh ở Ðà nẵng, Huế những ngày tháng tư vẫn giữ được cái không khí vừa nghiêm túc vừa lãng mạn của một giảng đường triết học thời Hy lạp cổ.

Mọi người lại say sưa nói, nói, nói… Nói để thêm hy vọng. Nói để che giấu sự vụng về trong hành động. Nói để thoát khỏi cuộc sống phẳng lì. Nói để che giấu sợ hãi… Mỗi người có một động cơ khác nhau, nhưng nói đã trở thành một nhu cầu cấp thiết.

Và động cơ chung thúc đẩy Huế lại liên miên họp hành tranh luận, là thái độ khó hiểu đáng ngại của người Mỹ.

Từ bên này đèo Hải vân nhìn sâu vào phía nam, Huế có nhãn quan rộng hơn trước việc những chiếc C-141 của Không lực Mỹ chở Thủy quân Lục chiến và cảnh sát Sài gòn ra định “giải phóng” Đà nẵng. Không phải lăm lăm khẩu súng về phía phi trường Đà nẵng như những người lính Quảng Đà, sinh viên Phật tử Huế có thì giờ nhìn xa hơn, xa tận tòa đại sứ Mỹ ở Sài gòn, xa tận tòa Bạch ốc bên kia đại dương.

Chiều hôm đó, Tường hướng dẫn một cuộc hội thảo tại Ðại học Văn khoa, đề tài mới nghe qua thật mênh mông: Dân tộc và Ðạo pháp. Tường vẫn thích đặt những vấn đề thật lớn lao như vậy. Tuy nhiên nhờ kinh nghiệm mấy năm dạy triết học, lần nào Tường cũng khéo léo hướng dẫn để dần dần các hội thảo viên thu hẹp lại tầm suy nghĩ, để cuối cùng chỉ chú ý đến một vấn đề thời sự nóng hổi vừa xảy ra. Kinh nghiệm cho Tường biết rằng nếu đưa vấn đề thời sự trước mắt ra từ đầu, thì có hai trường hợp xảy đến: Một là những kẻ thích hùng biện khoe khoang sẽ từ đó thổi phồng thành đủ vấn đề tổng quát, rồi câu chuyện cứ lan man đầu Ngô mình sở chẳng đi tới đâu. Hai là những kẻ hăng hái sốc nổi sẽ chộp lấy cơ hội đòi bàn đến biện pháp, để rồi cuộc họp kết thúc bằng những biện pháp cũ mèm như lại ra một tuyên cáo, gửi một kháng thư cho ông này ông nọ.

Nhiều lần lâm vào bế tắc, nên Tường rút kinh nghiệm lần đầu, đặt ngay từ đầu những vấn đề tổng quát để sau đó suy diễn thành những nhận định hoặc phương thức hành động cụ thể.

Câu hỏi đầu tiên Tường đặt ra cho buổi hội thảo: “Nếu phải lựa chọn giữa Ðạo pháp và Dân tộc, ta chọn cái gì?” gây sôi nổi ngay từ đầu. Kẻ bảo phải đặt Dân tộc lên trên hết. Kẻ bảo phải sống đúng với Đạo pháp trước đã, để có phương hướng trở thành một người phụng sự cho Dân tộc. Bàn qua cãi lại một hồi, Tường chứng minh đây là một vấn đề giả, vì một tín ngưỡng thực sự phù hợp với dân tộc thì mới có cơ tồn tại và phát triển trong dân tộc đó, đồng thời dân tộc đó cũng thực sự vững mạnh trên nền tảng của đạo pháp. Thời Lý Trần là một ví dụ. Sinh viên học sinh Phật tử nghe đến đó, hớn hở vổ tay vang cả hội trường khu đại học. Bấy giờ, Tường mới phổ biến hai tài liệu nóng hổi vừa nhận được.

Tài liệu thứ nhất là bài diễn văn của thứ trưởng bộ ngoại giao Mỹ William P. Bundy đăng trên tờ New York Times số ra ngày 9-4-66 trong đó Bundy cảnh cáo thượng tọa Thích Trí Quang có thể chủ trương lập chính phủ liên hiệp với cộng sản.

Tài liệu thú hai là bài xã luận do Cyrus L. Sulzberger viết trên New York Times số ra ngày 14-6-66, trong đó Sulzberger tố cáo phong trào Phật giáo miền Trung đã bị cộng sản trà trộn lũng đoạn, và cảnh cáo rằng nếu không chận đứng phong trào tranh đấu, thì chắc chắn cộng sản sẽ chiếm Huế và Đà nẵng.

Tường cho biết thêm là Cyrus L. Sulzberger viết loạt bài xã luận này sau khi là khách quí ở nhà phó đại sứ Mỹ Porter tại Sài gòn một thời gian.

Hai tài liệu từ hai nguồn gốc đáng chú ý: một từ Bộ Ngoại giao Mỹ ở Hoa Thịnh Đốn, một từ Tòa Ðại sứ Mỹ ở Sài gòn, đều có chung một lập luận.

Rồi Tường lớn tiếng hỏi: Hoa Thịnh Đốn bảo chúng ta là tay sai của Hà nội. Chúng ta có chịu sẵn sàng làm tay sai cho ai không?

Cả hội trường sôi động hét lớn: Không!

Tường hét vào micro để át tiếng ồn ào:

– Thiệu Kỳ Có sắp đem quân ra đây “giải phóng” Huế. Chúng ta không sợ. Vì chúng ta có hậu thuẫn của tuổi trẻ, có sức mạnh của đạo pháp. Các bạn, các bạn hãy trả lời dứt khoát một lần trước dân tộc: Các bạn có sợ không?

Cả hội trường hét vang : Không. Từ dưới hội trường, một nhóm sinh viên cầm ba tấm biểu ngữ không biết viết sẵn từ lúc nào chạy lên sân khấu. Tường phải né sang một bên cho họ giăng ngay biểu ngữ cho cả hội trường đọc rõ. Một tấm có viết: End the oppressions of the yellow race. Hai tấm kia cũng viết bằng tiếng Anh bằng sơn đỏ: Down with the CIA và End the foreign domination of our Country.

Rồi cả hội trường vỗ tay hát bài tâm ca của Phạm Duy:

Kẻ thù ta đâu có phải là người
Giết người đi thì ta ở với ai!
Kẻ thù ta tên nó là gian ác!
Kẻ thù ta tên nó là vô minh!
Tên nó là hờn căm!
Tên nó là tị hiềm!
Tên nó là một lũ ma, thế thì:
Kẻ thù ta đâu phải là người…

Tường ngây ngất bước khỏi sân khấu. Nam ngồi ở hàng ghế đầu, chạy đến nắm tay Tường lắc lắc, ánh nhìn khâm phục say đắm. Nàng cũng ngây ngất vì hãnh diện, nhìn ngắm Tường hồi lâu chỉ thốt lên được một tiếng: Anh!

Một cậu sinh viên đến gần. Nam tế nhị tránh xa ra một chút cho hai người nói chuyện. Họ thì thào gì đó, chắc là việc quan trọng lắm, vì Tường nghe xong đã vội vã chạy ra phía cửa bên trái. Nam chạy theo bắt kịp Tường, lo âu hỏi:

– Việc gì thế anh?

Tường thì thào, giọng lạc hẳn đi:

– Thầy …. thầy bị thương nặng vừa được chở về nhà.

Nam mếu máo hỏi:

– Ba em à? Lúc nào?

Tường biết Nam hiểu lầm, vội cải chính:

– Không. Thầy của anh. Bị lựu đạn trong Ðà nẵng. Anh phải về ngay bây giờ.

Nam run rẩy vì thương cảm lẫn sợ hãi, nói như van xin Tường:

– Anh cho em về với! Ở đây em không yên tam chút nào!

Tường gật đầu, rồi chạy lại chỗ nhà xe lấy chiếc Vespa. Nam ngồi phía yên sau, choàng tay ôm chặt lấy Tường, vừa để an ủi người yêu vừa để tìm một chỗ trú ẩn. Vì Nam bắt đầu lo sợ!

***

Ông Thanh Tuyến được chở từ Đà nẵng về lúc tám giờ tối, và vì phố xá ế ẩm đóng cửa thật sớm nên tai nạn của ông không lôi kéo ai chú ý cả. Chiếc xe Van bao thuê dừng lại trước cửa hiệu bán radio, lầm lũi đứng nép ven đường dưới bầu trời ngập sương. Người tài xế đến gõ cửa. Khi bà Thanh Tuyến đáp đúng địa chỉ, hai người nữa từ trên xe bước xuống nói qua những chuyện rủi ro của ông Thanh Tuyến. Bà Thanh Tuyến chết sững, rồi khuỵu xuống ngay chỗ hai cánh cửa sắt mở hé. Họ vực bà vào bên trong, dìu bà ngồi lên cái ghế dựa đặt sát quầy thu tiền, rồi lặng lẽ ra mở cửa sau xe Van khiêng băng-ca đưa ông Thanh Tuyến vào. Mọi sự làm trong yên lặng như cảnh đưa ma.

Thấy cảnh chồng nằm dài trên cái băng-ca đặt giữa lối đi, bà Thanh Tuyến đứng bật dậy, chạy đến bên chồng, mếu máo hỏi:

– Mình ơi mình, Trời hỡi, sao đến cớ sự này?

Hai người lạ khép kín cửa lại, sau khi dặn người tài xế tìm chỗ đậu xe rồi quay trở lại ngay.

Tự nhiên bà Thanh Tuyến bình tĩnh trở lại. Sự có mặt của hai người lạ, cảnh ông Thanh Tuyến nằm ngay giữa lối đi, khiến bà thấy phải rán giữ bình tĩnh để làm ngay những việc cần làm. Bà cúi xuống sát mặt ông hỏi nhỏ:

– Mình có nhận ra em không?

Ông Thanh Tuyến mở mắt, ngơ ngác hồi lâu, và khi nhận ra vợ, ông cố nhếch cười cho bà yên tâm, rồi gật đầu. Bấy nhiêu cũng đủ cho bà Thanh Tuyến cảm thấy nhẹ nhõm. Bà quay về phía hai người lạ nhỏ nhẹ nói:

– Hai ông đã làm ơn xin làm ơn cho trót. Nhờ hai ông đưa giúp nhà tôi lên lầu cho. Thưa lối này, chỗ cái cầu thang!

Bà hướng dẫn cho họ khiêng ông Thanh Tuyến lên phòng ngủ, gọi thằng Bá lên sai đạp xe qua đài phát thanh tìm Tường bảo về gấp, tự tay rót nước mời hai người lạ uống, rồi mới vào buồng tìm hiểu cho rõ một điều bà hồi hộp không dám biết: ông Thanh Tuyến bị thương nặng nhẹ thế nào!

Một điều ba hơi yên tâm hy vọng, là khác với tai nạn của Tường, bà thấy chồng bà không bị băng bó đầy mình như Tường lần trước. Bà rón rén đến ngồi lên giường. Cái băng-ca dùng để cáng ông từ Ðà nẵng ra đây được đặt thẳng lên mặt nệm. Bà Thanh Tuyến vuốt nhẹ trán và má của ông. Ông hâm hấp sốt. Bà hôn nhẹ lên trán ông, và tới lúc đó, bà mới bật khóc. Bà thảng thốt hỏi:

– Mình ơi, mình có đau lắm không?

Ông chưa kịp mở mắt trả lời, bà đã hỏi tiếp:

– Mình bị thương ở đâu?

Ông Thanh Tuyến rên khẽ, thì thào bảo vợ:

– Sau ót!

– Mình cho em xem nặng nhẹ thế nào! Để Tường nó về em bảo nó liên lạc đưa mình lên bệnh viện Huế nhé?

Ông Thanh Tuyến lắc đầu. Bà băn khoăn chẳng hiểu vì sao, nhìn đăm đăm lên khuôn mặt nhợt nhạt của ông, dò hỏi. Ánh sáng mát dịu của cây đèn ngủ chiếu rõ một nửa khuôn mặt bên trái của ông. Bà âu yếm nhìn chồng, chờ đợi, và ngờ ngợ nhận ra vài điệu khác thường. Con mắt phía trái của ông cứ nháy từng chặp, miệng cũng hơi méo về phía trái. Tay phải ông Thanh Tuyến đưa lên tìm nắm lấy tay bà, bóp nhẹ. Bà cảm động lại khóc. Bà cầm bàn tay trái của ông đưa lên môi hôn. Bàn tay trái mềm nhũn, rũ ra như không có xương.

***

Tường và Nam về tiếp chuyện với ba ông khách Ðà nẵng mới biết đầu đuôi câu chuyện. Ông Thanh Tuyến bị kẻ lạ nào đó quăng lựu đạn, nhưng may mắn không bị thương nặng. Ông chỉ bị một mảnh lựu đạn nhỏ bằng đầu tăm găm vào đầu, máu loang ra tóc không nhiều lắm. Người hàng phố vực ông lên cyclo chở đi bệnh viện. Ở đây, bác sĩ trực thấy ông chỉ bị một vết thương nhỏ nhưng lại nằm rũ ra, cứ nghĩ ông hãi hùng quá nên đâm yếu đuối. Mặc dù vậy, bác sĩ vẫn xem xét vết thương cẩn thận. Bác sĩ tìm không ra mảnh lựu đạn, nên phải cho chụp quang tuyến X. Kết quả phim chụp cho biết vì sao ông Thanh Tuyến nằm rũ như vậy. Mãnh lựu đạn nhỏ xíu xuyên hơi sâu vào đầu ông Thanh Tuyến, chạm vào một dây thần kinh. Ông tạm thời bị ảnh hưởng các hoạt động thân thể phía bên trái. Bác sĩ thấy trường hợp phức tạp, nên sau khi hỏi ý kiến bệnh nhân, bệnh viện đã thuê một chiếc xe Van để đưa ông về Huế cho gia đình quyết định nên mổ hay không nên mổ ngay để lấy mãnh lựu đạn ra. Câu đầu tiên Tường hỏi ba người Đà nẵng là:

– Có bắt được tên quăng lựu đạn không?

Một người đáp:

– Chúng tôi không rõ. Hình như chúng đã chạy mất.

Tường hy vọng vu vơ, hỏi tiếp:

– Hay có người lính nào đó vô ý đánh rơi lựu đạn?

Người tài xế dứt khoát đáp:

– Không đâu. Có người nghe chúng nó bàn luận với nhau trước khi ném lựu đạn. Cả ông bác cũng có nghe nữa!

Tường đoán được nguyên nhân tai nạn. Chàng không dám hỏi nữa, quay sang thương lượng với họ vấn đề tiền công chở ông Thanh Tuyến từ Đà nẵng ra Huế. Họ tính rành rọt tiền xăng nhớt, tiền ăn đường, cả tiền cái băng-ca nhà binh họ mua ở chợ Cồn, tiền thuê khách sạn ngủ đêm nay để mai trở về… Tường nói mẹ xuất tiền trả sòng phẳng, biếu thêm hai nghìn để “mua ít quà cho các cháu”, rồi lễ phép mời họ ra khu Lạc sơn dùng cơm tối kẻo đói!

Khi khép cánh cửa sắt xong, Tường cau mặt lại khó chịu. Chàng lầm bầm:

– Cái giá đầu tiên phải trả đây!

Tường không muốn lên lầu vội. Chàng ngại nhìn thấy cảnh mẹ và Nam thút thít sụt sùi quanh giường bệnh của cha. Ngại cả những câu hỏi thăm chàng phải hỏi, để rồi phải nghe những câu trả lời xa gần với sự thực. Tường đi xuống bếp tìm thằng Bá, bảo tìm cách gọi Quỳnh Như về ngay.

Thằng bé ngại ra mặt, tìm cách thoái thác:

– Nhưng con biết cô ấy ở đâu mà tìm?

Tường gắt:

– Lên trường Đồng khánh. Ở phòng có ánh đèn phía tay trái.

Thằng Bá không có cách nào khác, phải dắt xe đạp ra cửa một lần nữa.

***

Tường tắt đèn ở dưới cửa hiệu sau khi đóng cửa sắt. Chỉ còn ngọn đèn bóng tỏa ánh sáng lờ mờ ở cầu thang. Chàng uể oải tiến về phía đó để lên lầu. Lúc bước lên bậc thang thứ nhất, Tường đâm ra ngại ngùng. Ngại phải nghe những tiếng khóc thút thít của mẹ. Ngại nhìn nét mặt hớt hải của Nam. Ngại nhất là phải đến lúc phải hỏi cha để biết rõ đầu đuôi của tai nạn.

Tường thừ người đứng ở đầu cầu thang hồi lâu, rồi không biết nghĩ sao, quay ra phía cửa hàng, ngồi lên chiếc ghế sau quầy thu tiền. Chiếc ghế không có dựa nên chàng chồm người lên phía trước, chống hai cùi chỏ lên mặt quầy, hai bàn tay đỡ lấy cằm.

Chàng ngồi trong bóng tối lặng lẽ như vậy thật lâu, trí óc lan man không định được là mình đang nghĩ gì. Cho đến lúc Nam từ trên lầu đi xuống, Tường vẫn còn ngồi y nguyên như pho tượng rầu rĩ. Nam tưởng Tường đau đớn, bước nhẹ tới bên Tường nói nhỏ:

– Anh đừng buồn. Em nghĩ thầy không bị nặng lắm đâu.

Tường quay lại, nhìn Nam nước mắt rơm rớm đang lo âu ngước lên nhìn chàng , như sợ chạm phải một nỗi đau khổ lớn lao mà mong manh lắm. Nam không nghe thấy Tường nói gì, đến thật gần ôm lấy thân Tường, giọng vỗ về:

– Anh đừng buồn! Em sẽ thay anh săn sóc thầy! Vết thương trên đầu thầy, em với me đã xem rồi. Chỉ có một ít máu loang qua miếng băng keo, như vậy chắc không nặng lắm đâu. Không như anh hồi trước. Có điều em không hiểu là tại sao thầy cử động khó khăn quá. Chắc thầy chưa hoàn hồn.

Tường ôm chặt lấy người Nam, lòng cảm thấy bớt nặng nề. Chàng áp má lên tóc Nam. Mùi chanh lẫn với mùi bồ kết tỏa lên, Tường cảm thấy thân thuộc mộc mạc khác hẳn mùi những loại thuốc gội đầu đắt tiền mà Quỳnh Như và mẹ thường dùng. Tự nhiên chàng thấy phải tâm sự hết với Nam, phải thành thật nói hết không được e dè giấu giếm bất cứ điều gì. Chàng hỏi Nam:

– Lúc anh xuống đây, thầy có nói gì không?

Nam ngước lên, vui mừng thấy Tường đã lấy được bình tĩnh. Giọng nàng reo vui:

– Có. Nhưng ít thôi! Lúc me với em đỡ thầy xuống giường để lấy cái băng-ca ra, em với me cứ sợ thầy đau. Nhưng thầy không nhăn mặt đau đớn gì cả. Me bảo em ra ngoài phòng khách, đóng cửa lại, để me thay quần áo cho thầy. Em ra ngoài, một lúc sau me bảo em vào để đỡ thầy nằm nghiêng cho me thay nốt cái áo. Em quì xuống bên cạnh giường đỡ lấy vai thầy. Thầy cười với em. Có điều em hơi lạ là ở má và thái dương phía bên trái của thầy, các bắp thịt lâu lâu lại giật. Cái cười của thầy cũng méo xệch về phía đó. Anh!

Tường hỏi nhỏ:

– Gì hở Nam?

– Anh đưa thầy lên bệnh viện Huế xem sao! Anh có quen bác sĩ nào trên đó không?

– Quen nhiều lắm. Nhưng Nam này!

– Anh nói gì?

– Đưa thầy lên đó, anh ngại lắm!

Nam kinh ngạc vội ngước lên nhìn Tường:

– Anh ngại điều gì? Sao lại ngại?

Tường do dự một lúc không đáp. Nam gỡ tay Tường đứng thẳng dậy, hỏi lần nữa:

– Sao lại ngại? Chẳng lẽ cứ để thầy nằm một chỗ như vậy?

Tường lấy can đảm, nói với Nam:

– Anh ngại rồi mọi người sẽ biết vì sao thầy bị tụi mất dạy lưu manh ấy ám hại. Từ lâu anh vẫn lo chuyện làm ăn kiểu đó có ngày sẽ gặp chuyện không lành. Ði đêm lâu phải tới lúc gặp ma.

Mãi tới lúc đó, Nam mới chợt nhớ tới Lãng. Nàng xấu hổ là chỉ lo cho ông Thanh Tuyến mà quên bẵng em trai mình. Nam thì thào hỏi Tường, mà thật ra là hỏi mình:

– Không biết thằng Lãng có việc gì không?

Rồi Nam bảo Tường:

– Anh lên lầu với em đi. Cho em hỏi thầy thử Lãng có sao không! Tường theo Nam lên lầu. Bà Thanh Tuyến đang ngồi rì rầm nói chuyện với chồng, thấy Nam và Tường vào, gọi đến gần bảo:

– Thầy đã khỏe. Nam ra rót cho me tách nước trà.

Tường sợ phải ở lại một mình với thầy mẹ, vội nói:

– Để con đi lấy nước cho.

Bà Thanh Tuyến gật gù bằng lòng khi thấy con trai sốt sắng. Nam đến gần giường cúi xuống hỏi bà Thanh Tuyến nho nhỏ:

– Thầy có nói thằng Lãng em con có việc gì không me?

Bà Thanh Tuyến liếc nhìn chồng, thấy ông nằm yên nhắm mắt như đang ngủ, cũng thì thào bảo Nam:

– Me chưa kịp hỏi. Nhưng chắc không việc gì. Vì thầy kể chỉ có một mình thầy đi ăn ở Thời đại mà thôi!

Tường trở vào, tay bưng tách nước trà cho mẹ. Bà Thanh Tuyến hỏi:

– Lúc nãy con đưa cho họ bao nhiêu?

Tường nói:

– Dạ năm nghìn đồng.

Bà Thanh Tuyến trố mắt nhìn con, quên cả uống nước. Giọng bà trở nên gay gắt:

– Con điên rồi à? Tiền đâu trả cho họ thế?

Tường cũng cau mày đáp:

– Con vừa lãnh lương tháng trước.

Bà Thanh Tuyển hỏi:

– Lâu nay họ vẫn trả lương cho con sao?

Tường không đáp, chợt thấy cái phi lý khôi hài khi chính phủ trả lương đều đặn cho mình đi xách động chống chính phủ. Nhưng Tường tìm ngay được một lối tự biện hộ rất hợp lý: là tiền chàng lãnh không phải của mấy ông tướng trẻ trong Sài gòn. Đó là tiền của dân. Và chàng đã làm những điều phải làm, để khỏi thẹn với đồng tiền “nhân dân” đã đóng góp để trả lương hàng tháng cho chàng!!

***

Nam thấp thỏm chờ ông Thanh Tuyến mở mắt hoặc lên tiếng với vợ con để nhân cơ hội hỏi thêm về Lãng, nhưng chờ mãi không được, cuối cùng đành phải xin phép bà Thanh Tuyến về nhà. Bà Thanh Tuyển cảm động, nói với Tường:

– Con lấy Vespa chở em nó về!

Suốt dọc đường từ phố xuống Gia hội, ngồi sau lưng Tường, Nam muốn hỏi Tường xem liệu Lãng có bị nguy hiểm gì không, nhưng biết rõ Tường rất ghét Lãng, nên Nam ngồi im. Tường cũng hoàn toàn im lặng, chăm chú lái xe. Nam vịn tay vào yên trước chiếc Vespa, không dám thân mật ôm hông Tường như mọi khi. Nàng băn khoăn không biết có nên kể tai nạn của ông Thanh Tuyến cho gia đình mình biết không. Nếu kể, dĩ nhiên mẹ nàng sẽ hỏi về Lãng. Bấy giờ nàng giải thích với mẹ làm sao? Nếu không kể, chắc chắn gia đình Tường không tha thứ cái tội vô tình của nàng được. Nàng nghĩ: tốt hơn hết là nên bịa lời ông Thanh Tuyến, bảo Lãng không hề hấn gì. Tường dừng xe lại trước cửa nhà Nam. Nam hỏi:

– Anh vào không?

Tường đáp:

– Thôi khuya rồi.

Biết thế nào Nam cũng kể việc gia đình mình cho ông bà Văn và Quế, Ngữ biết, Tường dặn:

– Em thưa với ba má là thầy không bị nặng nề lắm đâu. Ðể mai lên thăm cũng được!

Nam đáp nhỏ:

– Dạ!

Tường không nói gì thêm, tăng ga rồi quày xe trở ngược về phố.

Đến nhà, chàng thấy Quỳnh Như và thằng Bá đã về. Tường cau mày gay gắt hỏi thằng Bá:

– Sao đi lâu vậy?

Thăng Bá gân cổ cãi lại:

– Cậu bảo tìm ở phòng có đèn bên dãy trái. Con lên không thấy đâu có đèn cả, vào tận phía sau mới tìm thấy phòng họp. Cô Như lại đang nói chuyện với người ta, con làm sao bảo cô về được.

Quỳnh Như cú đầu thằng Bá một cái, kêu lên:

– Ngốc ơi là ngốc. Tao thấy mày ngồi im, tưởng me sai qua để chờ đón tao về. Sao có chuyện quan trọng như vậy mà mày không nói liền?

Thằng Bá cãi:

– Cô nói mãi nói mãi, có lúc nào ngừng cho con nói đâu!

Quỳnh Như không thèm cãi với thằng người làm nữa, quay sang nói với anh:

– Em đã điện thoại cho bác sĩ Q. Bác sĩ hứa sẽ điện thoại ngay cho bác sĩ giám đốc bệnh viện để họ cho xe đến chở thầy. Em kể qua vết thương của thầy, bác sĩ bảo không thể biết nặng nhẹ, phải chụp hình mới rõ được.

Tường lớn tiếng, gần như quát tháo với Quỳnh Như:

– Ai bảo cô điện thoại cho bác sĩ Q? Ai bảo?

Quỳnh Như ngớ ra, chẳng hiểu tại sao anh mình nổi giận một cách vô lý như vậy. Quỳnh Như cũng nổi giận:

– Thầy bị như vậy không đưa thầy lên bệnh viện thì làm gì? Anh quẫn trí rồi!

Tường giật mình, lúng túng không biết nói gì nữa. Quỳnh Như thì vùng vằng bỏ đi lên lầu. Tiếng guốc của cô bé nghe như tiếng gằn của gót chân giận mặt gỗ!

Nguyễn Mộng Giác

 

   Số lần đọc: 69

Tác Phẩm

BÀI KỀ

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây