Nơi lưu giữ những tác phẩm của Nhà Văn Nguyễn Mộng Giác (1940-2012)

Nơi lưu giữ những tác phẩm của Nhà Văn Nguyễn Mộng Giác (1940-2012)

Mùa Biển Động – Chương 08

Vì hạt nhân của Mặt trận Nhân dân Cứu quốc Huế là giáo sư các trường đại học và trung học theo đạo Phật, cho nên khi mở rộng phong trào về các tỉnh lân cận như Quảng trị, Đà nẵng, Quảng ngãi, Bình định v.v… thành phần nòng cốt ở đó vẫn là các giáo sư trung học tỉnh lỵ và tư thục Bồ đề. Nếu chi phối được ban đại diện học sinh công lập lớn nhất tỉnh, thì phong trào phát khởi ở trường nam trung học tỉnh lỵ. Còn nếu không, các cuộc biểu dương lực lưọng xuất phát từ trường Bồ đề. Dù sao, vận động được học sinh công lập vẫn có lợi hơn. Trường tư thục Bồ đề thời đó phần nhiều chưa phát triển lớn, học sinh nhỏ và nghèo không đủ thế giá “lãnh đạo” đối với học sinh các trường khác như Nữ Trung học, Bán công hoặc Nghĩa thục.

Trường La San dĩ nhiên luôn luôn đứng ngoài, tuyệt đối không tỏ thái độ bênh hay chống. Các cha giám đốc trường La San và các thầy chưa kịp hoàn hồn sau cuộc đảo chánh 1-1 1-1963 , nên khéo léo chọn thái độ chờ xem.

Cái gốc Huế của phong trào cũng có nhiều thuận lợi đối với công chức các ngành. Hầu hết công chức cấp trung ở tòa hành chánh, ở các ty sở, ở các trường học đều là dân Huế, hoặc dân Quảng nhưng học ở Huế thành ra trở thành dâu rể của đất thần kinh. Chỉ cần nói lên một cái tên như Bác sĩ Chủ tịch, hoặc giáo sư phụ trách ngoại vụ, là các cụ già nói giọng trọ trẹ ở tòa hành chánh có thể kể vanh vách người đó con cái nhà ai, lúc nhỏ học hành xuất sắc thế nào, ra đời sống liêm chính và chuẩn bị xuất hiện cứu đời theo kiểu gì… Gần như giới công chức, giáo chức các tỉnh miền Trung từ Quảng trị vào Nha trang đều họ hàng nội ngoại với Huế. Các “anh chị em” do Bác sĩ Chủ tịch và Tường cứ đi khắp nơi gặp được sự đón tiếp nồng hậu, sự giúp đỡ tuy dè dặt nhưng chân thành. Chuyện nước thật đấy nhưng khi “thao thức” bên tách trà đậm xét lại tình hình trong nước và thế giới, dự phóng một tương lai, phác họa một niềm hy vọng rạng rỡ, họ thủ thỉ với nhau như chuyện trong nhà.

Tài liệu học tập chính thức của Mặt trận là các số báo Lập Trường. Cố vấn tối cao của “anh chị em” khi họ đến địa phương là các thầy ở chùa Tỉnh hội. Ðối tượng Vận động để tổ chức một cuộc biểu dương lực lượng tương tự như cuộc biểu dương tại Huế, rồi nhân đó cho ra mắt ban lãnh đạo Mặt trận Nhân dân Cứu quốc ở tỉnh, là học sinh trung học. Những người được gọi là thầy một cách “kính nhi viễn chi” (như thầy giáo, thầy thuốc, thầy chùa) bây giờ xắn tay áo lên vận động chính trị. Cho nên ban đầu các hoạt động ở tỉnh mang rất nhiều sắc thái lãng mạn: giáo sư văn chương được nhờ thảo tuyên ngôn tuyên cáo nên nhiều nơi loa truyền thanh loan đi các bài hịch na ná như “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn hoặc “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi. Giáo sư thể dục thể thao được phân giữ trật tự các cuộc biểu tình nên nhiều võ sinh nhu đạo mang áo bố đeo đai đi khệnh khạng hai bên những nữ sinh áo trắng cầm biểu ngữ. Thơ Nhất Hạnh, văn Võ Đình Cường du dưong êm ái với đầy đủ hoa bướm tuyên đọc oang oang ở cửa thiền.

Có thể vì vậy mà quí phu nhân mộ Phật của các tướng tá giữ chức vụ quan trọng ở các tỉnh đều thành tâm hưởng ứng phong trào. Các ông thì án binh bất động, dè dặt và kiên nhẫn chờ xem. Lại thêm một cớ cho người nhát gan trở nên mạnh bạo xin gia nhập Mật trận Cứu quốc “cho vui”!

Tuy nhiên, quanh cái nhân trí thức lãng mạn hoặc ngu ngơ đó, dần dần qui tụ một số người không lãng mạn ngây thơ chút nào: những nhà kinh doanh sạt nghiệp vì tay chân kinh tài của Ngô Đình Cẩn, những nạn nhân của chế độ Ngô Ðình Diệm, những nhân sĩ địa phương nhạy cảm với cơ hội, những nhà tu có lòng tham sân si bị đánh thức và bọn du thủ du thực ưa náo nhiệt. Thời đại mới mau chóng lập ra luật chơi riêng. Tuổi tác, học thức, khả năng nghề nghiệp, kể cả những điều trừu tượng như nhân cách, như khát vọng lý tưởng hoặc ước mơ chân lý, đều không phải là thước đo của uy tín và giá trị. Luật chơi qui định kẻ lôi kéo được đám đông thì nắm mọi quyền năng, và nơi trắc nghiệm giá trị là các cuộc xuống đường, biểu tình hỗn loạn ồn ào. Một cậu học sinh mười bốn, mười lăm tuổi có thể ra lệnh đóng cửa một trường lớn, hoặc một bác sĩ trưởng ty phải ngoan ngoãn lái xe đến trình diện với ban lãnh đạo tạm thời gồm ba bốn cậu trai chưa qua cái tuổi trưởng thành.

Trường hợp các “anh chị em” đặc phái bị đe dọa, bị hành hung như Diễm, Quỳnh Như không phải hiếm. Huế đã quen với những mái âm dương rêu phong và dòng sông trầm lặng, đã quen với những cơn mưa dai dẳng chì chiết, nến khó tưởng tượng được các trái chứng lửa bỏng ở những nơi như Ðà nẵng, Qui nhơn. Huế tưởng khắp nơi sẽ bắt chước Huế mà làm, biểu dương lực lượng một cách vui vẻ như cuộc đi dạo đầu xuân. Huế đã lầm!

******************

Ở Qui nhơn, việc đánh thức cái tỉnh lỵ nằm im lìm nghe một bên là sóng biển rì rầm một bên là gió đồng thổi qua nhũng dãy núi trọc, tỉnh lỵ vừa hồi sinh sau cuộc chiến tranh tiêu thổ thời chống Pháp nên lo lắng cơm áo lấn át các thắc mắc siêu hình, nơi tính chất bản năng khơi dậy qua cuộc vật lộn để sinh tồn chưa được thuần hóa bằng đời sống tâm linh phức tạp và thiếu hẳn tính thuần nhất lãng mạn của Huế, việc đánh thức không dễ dàng chút nào. Số “anh em” vào Qui nhơn thấy ngay điều đó lúc vừa bước xuống bến xe đò. Hình như ở đây mọi người đi đứng, ăn nói, vui hay buồn, chán nản hay hy vọng đều vồ vập hơn, hối hả hơn.

Người nào lo phần người nấy, nhà bên cạnh nổi lên tiếng khóc bên này mới biết cô gái hàng xóm vừa thất tình tự vận đêm trước. Huế đâu có như vậy? Cô ấy vừa trăn trở nhớ thương vu vơ có một đêm, tiếng nan giưòng rên rỉ đã dội khắp các khu lân cận rồi. Cho nên các điều dặn dò của Mặt trận rút kinh nghiệm từ vụ Diễm, Quỳnh Như ở Ðà nẵng đều trở thành thừa.

Từ bến xe về chùa không ai thèm theo dõi. Từ chùa tỏa ra các trường học cũng vậy. Người ta tiếp nhận “sứ điệp” như nghe một gợi ý làm ăn. Mà đã là chuyện làm ăn, thì phải so đo hơn thiệt, lời lỗ. Rắc rối khó khăn bắt đầu từ đó. Cái giọng hùng hồn từng làm nao nao bao nhiêu sinh viên, học sinh Huế trong các trang báo Lập Trường, ở Qui nhơn, người ta nghe quen thuộc quá. So với thời kháng chiến chống Pháp, các tỉnh như Bình định, Quảng ngãi, Phú yên thuộc Liên khu Năm đã từng nghe nhiều bài đanh thép hơn, hùng hồn hơn, khích động mạnh mẽ hơn. Chẳng những đã nghe, họ còn học thuộc lòng ở trường phổ thông, trong các buổi học tập chính trị, trong các cuộc chỉnh huấn, trong các đêm tự phê cải tạo tư tưởng. Những bài văn chính luận trước đây còn in đậm trong tâm trí họ, đến nỗi mỗi lần nhớ lại, họ vừa thầm kiêu hãnh vữa hãi hùng.

Anh em từ Huế vào được các chú các bác công chức gốc Huế chia sẻ nỗi thao thức, nhưng đối với người địa phương, anh em ngỡ ngàng không hiểu gì cả. Tại sao họ lạnh nhạt vậy? Họ có trái tim biết “thao thức trước hiện tình đất nước” hay không? Kẻ nghĩ vội liền tìm giải thích ở lòng tự cao tự đại, xem Qui nhơn như một tỉnh lỵ chưa phát triển cao về văn hóa và chính trị. Người hiểu biết hơn tìm gặp trong vẻ mặt dường như thờ ơ của dân địa phương những lo âu cụ thể và cấp bách hơn: những người nhảy núi từ thời chính quyền Ngô Đình Diệm áp dụng luật số 10/59 lần lượt trở về; chức sắc ở thôn xã đêm đêm phải vác chiếu lên ngủ nhờ ở quận lỵ; đường quốc lộ bị đào phá hoặc đắp mô; cầu xe lửa bị giật sập, bệnh viện tỉnh đầy dẫy những bệnh nhân cấp cứu với chân tay, thân thể bầy nhầy bê bết máu, mảnh lựu đạn và mìn bẫy tìm mằn mãi chưa hết; những vụ thanh toán đẫm máu ngay trong từng gia đình; những mảnh khăn tang quấn lệch trên mái tóc khét nắng của trẻ thơ; những khuôn mặt đen đúa ốm o chỉ còn đôi mắt rực lửa hận thù; những xác chết sình chương phơi đến thối ở công viên. Tình hình an ninh xấu đến nỗi chỉ còn cái lõm Qui nhơn, khu vực dây thép gai bao quanh quận lỵ và vài khu vực nằm dọc theo quốc lộ là còn tương đối an ninh vào ban ngày. Giọng văn hịch của tờ Lập Trường làm sao đủ mạnh để làm thức dậy những gương mặt chai đá ấy?

Đến lúc phát động phong trào ở các trường trung học, “anh em” lại gặp các phức tạp khó khăn khác. Ở Huế, Tường chỉ cần dẫn vài ba nam sinh Quốc học với tấm biểu ngữ viết sẵn qua Đồng khánh là đủ phương dựng phân hội Mặt trận tại ngôi trường nữ công lập nổi tiếng này. Sinh viên Y khoa của Bác sĩ Chủ tịch dễ dàng thuyết phục được các cô gái đang học trường Nữ hộ sinh. Đại học Sư phạm bắt tay được dễ dàng với Văn khoa. Luật kề vai sát cánh với Khoa học, dưới tấm áo nâu của nhà chùa. Nhưng ở Qui nhơn không thế! Theo tập chỉ nam soạn vội sơ kết kinh nghiệm ở một vài nơi, “anh em” thu thập tình hình ở chùa Tỉnh hội rồi nhờ một giáo sư huynh trưởng Phật tử đèo xe gắn máy đến gặp các giáo sư Huế ở trường Cường để. Giáo sư gốc Huế cho gọi gấp Ban Chấp hành học sinh ra quán cà phê trước trường. Chỉ cần nửa giờ đồng hồ, mọi chuẩn bị coi như xong xuôi: ai sẽ đánh hồi kẻng báo hiệu giờ hành động đã đến, ai lên phòng giám học mở máy phóng thanh, ai ra câu lạc bộ học sinh để vác biểu ngữ chạy quanh sân trường, ai thuyết phục hiệu trưởng để ông ấy yên tâm không sợ bị liên lụy nguy hiểm, ai được phân đi các lớp để hô hào bãi khóa xuống đường. Nghiêm lệnh là tuyệt đối bất bạo động, nhưng ban đại diện lo xa, phân cả người chuẩn bị đá và gậy, cũng như mua một ít bao ni lông và chanh để chống hơi cay. Tâm lý tuổi trẻ không thích cuộc phiêu lưu an toàn êm ả. Phải có hơi lựu đạn cay và dùi cui mới vui. Họ không chủ động trong việc sử dụng bạo lực đàn áp, thì tìm hướng trong việc chuẩn bị chống đỡ sự đàn áp. Chủ động hay thụ động, cả hai bên đều say sưa hấp dẫn như nhau!

Sáng hôm đó, mọi sự diễn ra ở trường trung học tỉnh lỵ Cường để đúng y như kế hoạch. Học sinh lũ lượt bỏ lớp kéo cả ra sân trường, rồi theo sau mấy tấm biểu ngữ do các chị đệ nhất cầm đi hàng đầu, các cậu đổ ra đường. Đám biểu tình đòi tiêu diệt Cần lao và thực hiện dân chủ đứng im trước cửa trường Cường để khá lâu vì chưa biết theo ngả nào. Ngả tiến ra biển chỉ cách năm mươi thước là đến Tòa Hành chánh và Tiểu khu đã bị dây thép gai chận lại. Giữa đường, trên tấm bảng gỗ treo lủng lẳng trên dây thép gai có viết hàng chữ phấn: MỨC CUỐI CÙNG, NỔ SÚNG. Năm chữ đó tạo phản ứng đam mê ngây say còn hơn cả thuốc phiện đối với dân xì ke. Đám trẻ hiếu động dồn cả về phía Tòa tỉnh. Cảnh sát dã chiến chuẩn bị khiên mây và đeo mặt nạ chống hơi độc. Gạch, đá, gậy gộc được thu thập thêm. Nhưng ban tổ chức kịp thời thuyết phục đoàn biểu tình nên xoay qua ngả phía tay trái. Họ có lý, vì chuyện đại sự cần bình tĩnh và dài lâu. Mới đi được vài chục bước đã khiêu khích cảnh sát để rồi chắc chắn rã ngũ, thì làm sao cả tỉnh đều biết có cuộc biểu dương lớn và làm sao tụ họp được tại sân vận động để ra mắt ban điều hành Mặt trận Nhân dân Cứu quốc Bình định-Qui nhơn? Sau vài mươi phút do dự, đoàn biểu tình quay lui rồi chia làm ba nhóm: một nhóm theo đường Tăng Bạt Hổ xuống Bồ đề, Nữ trung học, Tân bình, một nhóm ra diễu phố chính Gia long để lập oai với nhân dân, rồi theo đường Phan Bội Châu cũng là phố lớn để trở về lại sân vận động theo đường Võ Tánh. Nhóm cuối cùng này quá lèo tèo vì các cậu học trò mới lớn ở Cường để thích được làm người hùng trước mặt các nữ sinh Nữ trung học, Sư phạm hơn là dẫn một bọn con nít đi dạo phố.

Nhưng cả hai nhóm được ưu tiên cũng không làm tròn nhiệm vụ. Không phải tại họ bất lực. Lý do hoàn toàn khách quan.

Nhóm thứ nhất đi rã cả chân, hò hét rát cả cổ họng mới lên tới trước cổng trường Sư phạm. Nhưng các giáo sinh Sư phạm nhất định không cho họ vào. Các anh các chị học ở đây đều là cậu tú cô tú, lẽ nào chịu để cho bọn nhóc đàn em Cường để giành cờ tiên phong. Phía sân trong khuôn viên rộng rãi có trồng đủ thứ hoa của trường Sư phạm, đã có treo nhiều biểu ngữ viết đẹp hơn cả biểu ngữ Cường để, hàng ngũ chỉnh tề hơn, giọng Huế truyền trên micro được khuếch âm rộng rãi khắp các đồi cát chung quanh “thao thức” hơn, “truyền cảm” hơn, “hùng hồn” hơn. Chán nản la ó một hồi không được gì, họ kéo qua trường Kỹ thuật. Đến nửa đường, họ gặp học sinh Kỹ thuật, gióng trống giương cờ rầm rộ định qua lãnh đạo Cường để!

Nhóm thứ hai cũng không may mắn hơn. Vừa xuống đến trường Bồ đề, họ đã được các thầy áo nâu sồng đón tiếp, hỏi học sinh trường nào để còn xếp chỗ trong buổi biểu dương do thanh niên Phật tử Bồ đề đứng ra tổ chức. Anh em ở Mặt trận Huế vừa xuống xe đò đã đến đây “thỉnh ý” các thầy rồi mới qua Cường để, lẽ nào học sinh Bồ đề chịu lép vế trước trường trung học công lập tỉnh lỵ? Định kéo xuống Nữ Trung học, họ đã gặp các “em gái kết nghĩa” kéo ngược lên định rủ các anh. Trường nào cũng muốn nắm ngọn cờ đầu dù giáo sư hướng dẫn phong trào ở các trường đều là người Huế. Cuộc biểu dương lực lượng ở sân vận động vì thế thật lộn xộn, rời rã… Những bài diễn văn soạn sẵn quá văn hoa và quá dài, nên đọc chưa được một phần tư đã bị tiếng la ó, cười cợt, chòng ghẹo nhau của đám học trò mất trật tự lấp mất. Giọng Huế vốn đã nặng, lên micro rồi bị cái ampli cũ và cái loa bể làm biến giọng đi, lại càng khó nghe. Diễn giả vừa lau mồ hôi vừa rán hét thật lớn. Thính giá cũng lau mồ hôi và nói chuyện riêng. Những tiếng “thao thức”, “dân tộc”, “bất khuất”, “tiên phong” bị gió thổi bạt về hướng ngọn núi trọc, lâu lâu hiện ra rồi lại biến mất. Chỉ có một diễn giả học sinh Kỹ thuật nói cuối cùng được hoan nghênh nhiệt liệt. Không phải vì anh nói hay. Chỉ vì anh nói gọn, vừa nói vừa biết chêm vào những chữ tếu thời thượng như “ác ôn một cây xanh dờn”, “tàn nhẫn vô nhân đạo”, “tinh thần bất khuất đếch sợ ai”, “hãnh diện là dân Giao chỉ..

Cuộc biểu dương rã dần như một hơi khói dưới bầu trời đổ lửa, trong sân vận động bụi bay mù mịt. Ban điều hành lâm thời của Mặt trận Nhân dân Cứu quốc Bình định Qui nhơn ra mắt trước một đám trẻ con quần áo nhem nhuốc mũi dãi thò lò, và lũ biểu ngữ bị gió cuốn làm quăn lại thành những sợi dây vải nửa trắng nửa đỏ.

Liên tiếp mấy hôm sau có nhiều cuộc biểu dương khác không do Mặt trận đứng ra tổ chức, tuy các câu khẩu hiệu, biểu ngữ, bích chương vẫn có nội dung tương tự. Rất nhiều người lạ mặt mà căn cứ vào quần áo, màu da, giọng nói, cách đi chân đất, có thể đoán họ từ các xã chài lưới mất an ninh bên kia đầm Thị nại chèo ghe qua. Rất nhiều gậy gộc, gạch đá, bọn lưu manh quen hôi của khi có loạn lạc, và bọn trẻ hiếu kỳ. Nhiều cửa hiệu bị cướp, bị đốt phá, vì một người nào đó trong đám biểu tình đột ngột la lớn: “Nhà này là Cần lao. Đốt mẹ nó đi, anh em” Dĩ nhiên hai tiếng “anh em” ở đây không nhằm kêu gọi số “anh em” được Huế gửi vào thành lập Mặt trận Nhân dân Cứu quốc địa phương. Họ thất vọng não nề, và đã vội vã lên bến xe về Huế từ nhiều hôm trước, để lại tiếng oan cho nhà chùa. Nhưng bù lại, nhà chùa lại được xem là đầu não của một thế lực quần chúng mới nổi.

**************

Ðà nẵng đón tiếp anh em đồng chí của Tường cũng tương tự như Qui nhơn, nhưng theo một dạng thức khác!

Thành phố cảng lớn bậc nhì ấy có lịch sử khác. Suốt thời kỳ kháng chiến thứ nhất, Ðà nẵng nằm dưới quyền kiểm soát liên tục của Pháp. Liên khu Năm chỉ nới rộng vòng đai đến khoảng Mộ đức, tiếp theo là một vùng xôi đậu vườn không nhà trống là đất mầu mỡ của dân buôn lậu. Lâu lâu cũng có du kích hoặc bộ đội địa phương về hoạt động ở vùng Duy xuyên Hội An, nhưng lọt được vào Đà nẵng là chuyện khó. Lực lượng quân sự Pháp thấy rõ hơn ai hết tầm quan trọng chiến lược của Ðà nẵng, nên dồn mọi nỗ lực bảo vệ an ninh thành phố này.

Từ 1945 đến 1954, vai trò chính trị của Huế đã sút giảm, nhưng dư âm thời hoàng triều vẫn còn kéo dài. Con cái các thế gia, đại tộc, dòng dõi vua chúa hưởng được thế lực cũ nên tỏa ra khắp các nơi nắm các vai trò trọng yếu về kinh tế, chính trị, văn hóa. Đà nẵng Quảng nam đông dân, đất đai phì nhiêu nên dĩ nhiên thu hút mạnh hơn mặt bắc như Quảng trị, Quảng bình. Các hiệu buôn lớn, rạp chiếu bóng, các công sở lớn nhỏ, cả đến các khu biệt thự dành cho giới thượng lưu gần bờ sông Hàn đều của người Huế. Thị dân Đà nẵng, có thể nói không quá đáng, đều là cháu nội hoặc cháu ngoại của cố đô. Do đó hễ Huế gọi là Đà nẵng đáp. Huế thức dậy, Ðà nẵng liền cựa mình vươn vai. Mật trận Nhân dân Cứu quốc Huế thành hình chưa được một tuần, ở Ðà nẵng, đã có cơ sở của một tổ chức tương tự. Ban chủ biên tờ Lập Trường, Giáo hội Phật giáo Thống nhất miền Trung, cử cán bộ đi vào đi ra đèo Hải vân như thoi dệt cửi.

Trong các địa phương Mặt trận hy vọng tổ chức được các chi nhánh hùng hậu, Đà Nẵng là chỗ có nhiều hy vọng nhất. Quảng nam, Quảng ngãi ư? Thế lực Quốc dân đảng cực đoan mạnh quá trong khi Phật tử lại yếu kém và rời rã! Qui nhơn ư? Lòng người trải qua chín năm sống dưới chế độ cộng sản lạ lùng bất trắc quá! Tuy hòa, Nha trang? Xa quá, nhạt quá, gần như không mang cá tính đặc biệt nào! Tường đích thân vào Đà nẵng lo phát động phong trào là do vậy! Chàng không bao giờ xem thường thế lực Công giáo ở đây. Các khu giáo dân di cư bao quanh thành phố như tình trạng tương tư tại Sài gòn lâu nay hưởng nhiều ưu đãi của chế độ Ngô Đình Diệm, hiện đang thấp thỏm lo âu và chú ý theo dõi vận động mới của tờ Lập Trường. Các cha xứ và tòa giám mục lâu nay trực tiếp khai thác một số cơ sở kinh doanh cũng đang theo sát biến chuyển của tình thế. Tổ chức của họ thuần nhất, hữu hiệu, kết hợp được quyền lợi kinh tế và đức tin nhiệt thành. Đà nẵng không phải là chỗ dễ! Bác sĩ Chủ tịch đã vỗ vai cẩn thận dặn dò Tường!

Chàng tránh đi xe đò, chỉ dùng chiếc Vespa Ý của mình. Cũng tránh khởi hành buổi sáng. Cẩn thận, chàng không tỏ cho ai biết mình sắp đi Đà nẵng, dù là Quỳnh Như hoặc thầy mẹ. Đến Tỉnh hội Phật giáo lúc chạng vạng tối, chàng cùng với một anh huynh trưởng Phật tử đến nhà Lâm. Họ dành cả buổi tối hôm ấy và ngày hôm sau để bàn thảo tỉ mỉ kế hoạch hành động. Ngày thứ ba dành cho cuộc họp sơ bộ của ban vận động. Tối hôm thứ ba thêm cuộc họp mở rộng khác với đại diện giáo chức và học sinh các trường. Tường nhường ghế chủ tọa cuộc họp cho thượng tọa trụ trì chùa Tỉnh hội, nhưng từ đầu đến cuối, chỉ có chàng thực sự điều khiển cuộc họp. Vị thượng tọa cao niên ban đầu còn ngồi thẳng người, chắp tay trên bàn mỉm cười bao dung nhìn mọi người như hạ cố lắng nghe chuyện trầm luân của thế sự. Nhưng về sau mệt quá, thượng tọa lim dim ngủ. Lâu lâu, Tường quay về phía vị chủ tọa đáng kính lễ phép thưa:

– Chúng con xin thỉnh ý Thượng tọa về vấn đề giờ giấc…

– Chúng con biết trước thế nào Thượng tọa cũng nghĩ rằng…

Vì vị thượng tọa cao niên chưa bao giờ nói trái ý Tường nên cuối cuộc họp, chàng thay mặt luôn thượng tọa để chỉ huy:

– Thượng tọa và tôi đã nhất trí rằng…

– Thượng tọa và tôi xin lưu ý anh em…

– Thượng tọa có hỏi ý kiến tôi, và chúng tôi đều thấy cần phải…

Việc chuẩn bị chu đáo từng chi tiết, như qui định rõ nhân viên an ninh trật tự của cuộc biểu dưong gắn cái nơ mầu gì, mỗi cánh nơ dài bao nhiêu phân, đọan chót cắt hình chữ V xéo như thế nào. Nhân viên chìm phòng ngừa kẻ gian trà trộn phá hoại được ngụy trang kín đáo hơn nữa, cách nhận diện thế nào thì Tường không phổ biến ra hội nghị mở rộng. Sau cuộc họp, các đại diện trường, đoàn thể sẽ nhận một bì thư dán kín, có niêm và đóng dấu mật (trong đó ghi rõ nhân viên trật tự chìm cài cái kim găm loại nào ở đâu, đầu đội mũ lọai gì, mầu gì v.v… ).

Mọi người ra về với lòng tin tưởng. Sáng ngày phát động cuộc biểu dương, không có “nạn cờ lau” như Qui nhơn. Trường Bồ đề phối hợp chặt chẽ với Phan Chu Trinh, Tỉnh hội liên kết mật thiết và tương kính với đại diện Mặt trận Huế. Nhưng phản ứng của quần chúng khác hẳn.

Dường như trong huyết quản mỗi người dân gốc Quảng đều có chất lửa quá khích. Học sinh các trường không thể chấp nhận được rằng: trong lúc mình thao thức với hiện tình đất nước, lại có những người dân Ðà nẵng thản nhiên đi ăn phở, thản nhiên ngồi quán chờ từng giọt cà phê đen rỏ xuống cái ly sữa, thảnh thơi đi chợ, thảnh thơi dạo mát, thảnh thơi đi bát phố. Họ không chấp nhận cả những kẻ bỏ Đà nẵng tất bật rối rít lên sân ga, bến xe, bến phà để đi làm ăn nơi khác. Cho nên trước khi cuộc biểu dương thành hình, nhiều toán học sinh lực lưỡng cầm gậy đến các chợ buộc bạn hàng bãi thị, lên bến xe buộc tài xế lơ xe nghỉ việc.

Giới chợ búa đâu có chịu nhượng bộ dễ dàng cho mấy cậu nhóc con làm càng, nhất là khi họ chưa có may mắn đọc tờ Lập Trường. Nếu Tường không dùng xe nhà chùa lên bến xe Ðà nẵng-Huế can thiệp kịp thời, có thể đã có máu học sinh Bồ đề phun ở bến xe đò.

***************

Cuộc biểu dương lực lượng được đông đảo, rầm rộ, trật tự, trang trọng đúng y như mơ ước của bản kế hoạch chi tiết. Ban chấp hành lâm thời Mặt trận Nhân dân Cứu quốc Quảng nam Ðà nẵng ra mặt giữa tiếng hoan hô tở mở của mấy vạn người xếp theo hàng ngũ ngay ngắn trên sân vận động. Tường thở phào nhẹ nhõm, liếc nhìn vị thượng tọa Tỉnh hội Phật giáo. Hai người mỉm cười gật đầu thầm khâm phục nhau, trong đó phần thầm khâm phục mình có cao hơn tí xíu. Vị thượng tọa thêm vững tin ở đạo hạnh, Tường thì tự tin đã nắm được chìa khóa của vận động chính trị. Trong lúc đó, các cậu học sinh thanh niên Phật tử đang ngơ ngẩn tiếc rẻ!

Chỉ có bấy nhiêu thôi sao! Công phu chuẩn bị chờ đợi cả tuần, để xếp hàng ngay ngắn, đi quanh vài con đường phố kín cửa, dừng lại chỉnh đốn hàng ngũ, nghiêm chỉnh lắng nghe mấy bài hiệu triệu tuyên ngôn đã biết trước, rồi về! Chẳng có chút gì hùng dũng mạo hiểm hết! Về bây giờ, tiếc quá!

Thế rồi họ tụm năm tụm ba xì xào bàn tán. Cờ, biểu ngữ đòi độc lập dân chủ thực sự, đòi ngoại bang tôn trọng chủ quyền dân tộc, nhất là đòi tiêu diệt tận gốc bọn Cần lao vẫn còn đó. Công lao nắn nót cả đêm! Thức khuya dậy sớm bao lần, hồi hộp lo sợ cảnh sát bao lần mới tạo ra được chúng mày! Bây giờ vất đi sao?

Thế rồi không hiểu từ đâu có tiếng hô hào đi truy lùng Cần lao ẩn núp ở Ðà nẵng. Ban đầu còn dè dặt, sau đó hào khí bốc lên ngùn ngụt. Đi thì đi, sợ đếch gì! Cần lao, chúng mày nấp đâu? Đoàn biểu tình ào ào kéo ra khỏi sân vận động trước những cặp mắt ngơ ngác của ban tổ chức. Tường nới lỏng cà-vạt, tháo kính ra lau, đôi mắt lờ đờ nhìn xuống đám đông giữa đám bụi mù không hiểu gì cả. Chàng hỏi vị đại đức huynh trưởng Phật tử:

– Họ đi đâu thế?

Nhà sư trẻ kia cũng hỏi lại:

– Anh có ra lệnh gì thêm không?

– Không. Xong phần ra mắt là hết chương trình.

– Có lẽ họ ra về.

– Nhưng tại sao họ giăng biểu ngữ và vác loa đi theo.

Ban Chấp hành lâm thời, anh em đại biểu Mật trận Huế, Ban cố vấn hớt hải bỏ khán đài chạy xuống sân vận động. Họ không kiểm soát được đám đông nữa. Ngay trong đám đông, dưới ánh nắng thiêu đốt và giữa đám bụi bặm mù trời, từng người cũng không kiểm soát được chính mình. Họ hò hét, vung gậy, dày xéo lên nhau, chửi rủa nhau theo một bản năng dữ dội và huyền bí xa lạ nào đó. Họ không hiểu mình định đi đâu, phải làm gì. Cứ đi, và hò hét, và giơ nắm đấm lên trời cho hả tức. Tức chuyện gì? Các cậu trẻ do dự, rồi chợt nhớ đến biết bao sự đáng tức trên đời: không được hút thuốc lá, không được quên thẻ kiểm tra, không được đi xe đạp hàng đôi, không được đi bộ sang lề phía trái, không được đi ngược ở khoảng đường một chiều, không được làm gì tùy thích, và mới đây thôi, các người lớn cứ răn đe dặn dò không được bạo động. Ở đâu cũng gặp toàn bảng cấm. Đáng ghét thay, bọn người lớn!

Không được đập phá bạo động ư? Thì cứ đập phá vung lên xem, chúng nó làm được gì. Họ kéo đi tìm Cần lao thì đã việc gì đến ai? Cần lao, chúng mày núp ở đâu? Thì chắc chắn chúng không dám núp ở chùa, vì chúng mình vừa từ chùa kéo đến sân vận động xong! Chút xíu liên tưởng của người học trò ngu nhất cũng đủ đẩy bọn họ tìm đến các nhà thờ. Ai đó hét lớn:

– Xuống khu Thanh bồ Đức lợi đi. Tuần trước tụi tao đi qua đường Đống đa bị chúng quăng đá suýt lỗ đầu!

Thế là đám đông ùn ùn kéo về vùng bãi Thanh bình. Khu đồng bào Công giáo lâu nay được bố phòng tự vệ chặt chẽ, tất nhiên đã chuẩn bị chờ đón tình thế xấu nhất có thể xảy đến. Cho nên khi có người chạy Goebel về báo trước đoàn thanh niên Phật tử đang tay gậy tay đá ùn ùn kéo về đây, khu Thanh bồ mau chóng trở thành một pháo đài kiên cố. Cổng chính trổ ra đường Đống đa được đóng lại. Thanh niên cầm sẵn Garant vẫn được phát cho nhân dân tự vệ khu từ trước. Phụ nữ chuẩn bị đồ chữa cháy và cứu thương. Phụ lão cầu Chúa che chở. Toán thanh niên ô hợp cầm biểu ngữ truy lùng Cần lao vừa hiện ra thì tất cả các chuông nhà thờ đều rung lên liên hồi. Cuộc thánh chiến bắt đầu!

**************

Tường đến đường Đống đa khi gạch đá bay qua bay lại hai bên con đường ấy chẳng khác nào mưa rào. Bên này đường là tiếng hò hét, chửi bới. Bên kia đường là tiếng chuông nhà thờ đổ liên hồi được loa phóng thanh dội ra xa. Tiếng cầu kinh rì rầm sau những căn nhà dãy mái tôn càng khiến cho không khí giống với thời bách hại trong kinh Tân ước. Lâu lâu, đã có những phát súng bắn chỉ thiên trong khu đồng bào Công giáo. Vài thanh niên Phật tử nhát gan vội nấp sau bức tường gần nhất, chờ một lúc có lẽ tự nhận thấy sợ hãi như vậy là không anh hùng, đứng bật dậy chõ mồm qua bên kia đường chửi thề tục tĩu.

Một vài người la lớn:

– Coi chừng tụi nó bắn. Về chùa tìm mượn súng đem lại đây.

Ai đó hỏi lại:

– Làm gì có súng ở chùa?

– Thì đi mượn bên Tuyên úy Phật giáo tiểu khu.

Không biết đã có bao nhiêu người chạy đi tìm súng, chỉ nửa giờ sau, bên này đường cũng có những phát súng chỉ thiên đáp lại. Có thể họ khỏi cần chạy đi đâu xa. Súng Garant M-1 của nhân dân tự vệ, thì phường ấp nào không có!

Tường giật cái micro pin từ trên tay một Phật tử, cố hét thật lớn:

– Không được bắn. Anh em Phật tử hãy bình tĩnh. Ðây là tiếng nói của Mặt trận Nhân dân Cứu quốc. Tôi ra lệnh: Không ai được dùng súng.

Bên kia đường, một phát súng chỉ thiên đáp ngay lời Tường, đồng thời có nhiều tiếng hỏi:

– ĐM thằng nào léo nhéo đó?

– Có phải thằng mang cà-vạt cầm đầu không?

– Cho nó một viên đi!

Tường bắt đầu thấy sợ. Mọi sự nguy hiểm hơn chàng tưởng. Chàng vội mở cà-vạt cho vào túi quần, ngồi xuống men theo vách tường ngôi nhà xây một tầng để lách qua chỗ khác. Khi đã tìm được chỗ núp an toàn, chàng bắt đầu dùng loa nói tiếp:

– Anh em Phật tử nghe đây. Đây là nghiêm lệnh của Thượng tọa Tỉnh hội và Ban Chấp hành Mặt trận Nhân dân Cứu quốc Quảng nam Đà nẵng: Không ai được dùng vũ khí. Không ai được bắn. Tất cả Phật tử hãy bình tĩnh trở về chùa.

Bên kia đường, lại có nhiều tiếng nói qua loa phóng thanh:

– Nó lẩn sang phía này.

– Phía nào?

– Phía sau cái nhà lầu.

– Đúng thằng cầm đầu không?

– Chính nó. Bắn bể óc nó đi!

Tiếp theo là một phát đạn, lần này không bắn chỉ thiên mà bắn chéo lên nóc ngôi nhà Tường đang núp. Từ lúc đó, họng súng hai bên hạ xuống. Nhà cửa hai bên đường vội khép cửa. Trẻ con la khóc. Mẹ ơi ới gọi con, tiếng la thét tiếng chửi thề vỡ òa gần lấp cả tiếng chuông nhà thờ. Rồi đột nhiên, có tiếng kêu cứu bên kia đường:

– Cháy cháy! Chúa ơi! Chúng nó đốt nhà! Cứu tôi với!

Khói ngùn ngụt bốc lên, cùng với tiếng gỗ và tre nổ lốp bốp. Lợi dụng lớp khói mù, đám thanh niên hăng máu cả hai bên ùa ra đâm chém, đánh vật, quyết giết lẫn nhau.

Tường vừa vất cái micro pin định đổi chỗ núp thì hai ba người từ đám khói mù khét lẹt chạy đến ôm chàng vật xuống. Chàng bị đòn hội chợ, trước mắt chỉ thấy khói lửa quay cuồng. Ban đầu chàng còn thấy đau tức đến nghẹt thở khi bị một cái thúc trời giáng vào bụng dưới. Rồi hai ba cú đá ở lưng. Một nhát gậy ở đầu. Chàng đưa tay ôm lấy trán, cảm thấy hai tay ươn ướt. Một cú đấm nữa sau ót làm cho chàng gục hẳn, không biết gì nữa. Nếu không có bốn Phật tử kịp thời đến cứu, có lẽ vài phút sau, Tường đã trở thành một đống thịt bầy nhầy trên khoảng cát đen.

Nguyễn Mộng Giác

   Số lần đọc: 158

Tác Phẩm

BÀI KỀ

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây