Nơi lưu giữ những tác phẩm của Nhà Văn Nguyễn Mộng Giác (1940-2012)
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Mùa Biển Động - Chuơng 65

Có điều bất công là suốt mấy ngày loạn lạc, cả nhà không ai nhớ tới Ngô. Chiều Ba mươi cúng tất niên, 12 giờ khuya đốt pháo cúng giao thừa, sáng mồng Một cúng đầu năm, Ngọc thay Ngô giữ vai trưởng nam ra lạy trước bàn thờ tổ tiên. Không biết đã học và luyện tập từ lúc nào, Ngọc lạy thành thạo quá. Cách đứng thật thẳng trước bàn thờ với đôi mắt nhìn thành kính, cách chắp tay chậm rãi xá bốn lần rồi chậm rãi chống hai bàn tay lên đầu gối phải lấy thế để quì đầu gối trái xuống mặt chiếu, trước khi quì nốt chân kia và sụp xuống lạy, cách thổi nhẹ ngọn lửa trên đầu nắm hương rồi cung kính cắm vào lư, cách khoanh tay đứng bên cạnh bàn thờ, cách nghiêng nhẹ bình trà châm thêm nước cúng vào tách sứ Nhật bản... mọi động tác đều thuần thục tự nhiên, khác hẳn những động tác vụng về bất đắc dĩ của Ngô trong trường hợp tương tự.

Ông bà Bỗng bằng lòng ra mặt, phải khen:

- Anh Ngô mà được như con thì không đến nỗi!

Ngọc sung sướng, đỏ mặt cảm ơn. Đó là dịp duy nhất Ngô được nhắc nhở. Diễm thích Ngô hơn Ngọc. Vì sao? Chính nàng cũng không hiểu. Nàng cảm thấy gần gũi, quen thuộc với những cẩu thả luộm thuộm trong sự sống hằng ngày của Ngô. Quen thuộc cả với những đam mê viển vông của anh. Nàng không mơ lấy được một ông chồng bất thường như vậy (Nàng do dự không dám quả quyết Ngữ giống Ngô), nhưng có một ông anh như Ngô, tốt lắm! Một ông anh phải hạ mình nhờ em gái dọn dẹp giùm căn phòng vẽ hôi hám bừa bãi, một ông anh phải đỏ mặt lí nhí vay tiền của em để lẩn tránh hẹn rày hẹn mai khi đến kỳ trả nợ! Ngọc là cái khuôn cứng không còn gì để chê, nên cũng không còn gì để bàn luận nữa. Cuộc sống trở nên phẳng lì, lặng ngắt, hiu quạnh như một tu viện, trầm buồn như tiếng cầu kinh. Diễm cảm thấy ngột ngạt khó chịu trước mặt Ngọc, nên không hề dám nói đùa hoặc bỡn cợt với anh. Nàng nghĩ ba mạ có lý do riêng để nể trọng Ngọc hơn Ngô, lý do dễ hiểu. Nhưng nàng vẫn âm thầm ấm ức cho Ngô.

Ngô chỉ được ông Bỗng nhắc tới lúc mọi người ở trong tình trạng tuyệt vọng. Thật vậy, mấy hôm đầu chen chúc sống trong tầng hầm lạnh lẽo và tối tăm, dù không nói ra, ai cũng hy vọng tất cả chỉ là tạm bợ. Không thể nào nghĩ rằng Cộng sản chiếm được Huế lâu dài. Một thung lũng heo hút như Khe sanh vẫn đứng vững được sau bao nhiêu đợt tấn công của quân đội Bắc Việt. Điều đó ai từng đọc báo, nghe radio trước Tết đều biết. Huống chi Huế, một thành phố không có giá trị mấy về chiến lược quân sự. Cộng sản có thể bất thần xâm nhập để chiếm vài khu của Huế, nhưng liều chết giữ Huế lâu dài là dại dột. Lập luận ấy hợp lý, dễ hiểu, rõ ràng phân minh như hai với hai là bốn. Tai nạn ụp đến bất ngờ, nhưng không thể kéo dài quá một tuần. Hãy nín thở qua sông! Hãy nhẫn nhục để sống còn. Nhờ vậy, người ta lầm lì chịu đựng những thiếu thốn, những xích mích, những va chạm. Không có gia đình nào nhớ mang theo nồi niêu soong chảo, và không ai lo lắng việc này. Bánh chưng bánh tét sắm Tết đem theo còn đủ ăn được vài ngày, có thể nói là dư ăn cho đến ngày Cộng sản phải rút lui. Người lo xa lo thủ, không chia sớt cho ai. Nhưng số này ít. Ða số sẵn sàng chia sẻ phần thức ăn dự trữ của mình cho "chiếu" lân cận. Bà Bỗng, Diễm đem bánh tét đi mời một gia đình đông con chạy giặc với hai bàn tay không.

Rồi thời gian qua mà bên ngoài không có gì sắp thay đổi. Ba ngày, bốn ngày, rồi năm ngày. Qua lỗ thông hơi có song sắt chắn, những tiếng động bên ngoài vẫn như trước. Nghĩa là bộ đội vẫn đi lại tự do trên đường Lê Lợi, hai người bộ đội mặc thường phục vẫn đều đặn xuống kiểm soát đám người tản cư mỗi buổi. Chẳng những thế, người trẻ tuổi hơn còn nấn ná ở lại trò chuyện với vài người, loan những tin tức đáng nản. Không ai vội tin những tin tức khoa trương ấy, nhưng bắt đầu ngờ vực chính niềm tin, niềm hy vọng của mình. Nếu Cộng sản không chiếm Sài gòn thì tại sao tại đây, ngay bên cạnh căn cứ Mỹ ở Phú bài, chỉ cách căn cứ quân sự khổng lồ Ðà nẵng không đầy 15 phút bay phản lực, thế mà quân đội VNCH lẫn quân đồng minh vẫn để mặc cho cộng quân ngang nhiên đi lại. Họ đã mặc cả ngầm từ trước Tết chăng?

Không biết từ lúc nào, từng người dần dần đổi cách ăn nói. Người đầu tiên là ông Bỗng. Ông ở vào một vị thế khó xử. Ông đã được (hoặc bị) chỉ định làm đại diện cho 38 người tản cư tạm trú tại căn hầm trường Luật. "Quan trên" trông xuống ông, "đồng hương đồng cảnh" soi mói theo dõi ông, đồng thời cũng trông chờ nơi ông. Từ chỗ bất đắc dĩ nhận một nhiệm vụ hàm hồ, ông trở thành một nhân vật quan trọng, và thầm chiêm ngưỡng vai vế mới của mình.

Ông được quyền "cứu xét" để cho người về nhà mang thêm lương thực, nồi niêu, quần áo, chăn mền. Muốn đi lại, phải có phép của Cách mạng. Một mảnh giấy nhàu viết nguệch ngoạc vài dòng cua bò, thế thôi. Giấy thông hành tạm này có giá trị vì những bộ đội và du kích canh giữ cầu Nam giao đều dưới quyền ông Thắng, người bộ đội mặc thường phục mang K54. Nét chữ của ông, với lối viết thay những chữ C bằng chữ K (như kách mệnh) bắt chước Bác Hồ, với những chữ G có bụng lớn kỳ dị chẳng giống ai còn hiệu quả hơn cả một dấu mộc đỏ. Ông Bỗng được phép "phó thự" vào những tấm giấy thông hành ấy, đổi lại, ông bị Thắng đe:

- Bác phải bảo đảm những người bác giới thiệu cho về là những phần tử tốt. Hiện Cách mạng chưa có thì giờ xem lại lý lịch nhân dân, chắc chắn còn nhiều phần tử phản động len lỏi vào đây. Cách mạng chưa tìm ra để giáo dục. Có việc gì xảy ra, bác phải chịu trách nhiệm trước nhân dân.

"Chịu trách nhiệm trước nhân dân !" Nhân dân là ai vậy? Chắc chắn không phải là những bạn hàng xóm láng giềng đang chen chúc nhau trong cái hầm chật và tối cùng với vợ con ông. Họ không đáng để ông chịu trách nhiệm với! Cũng không phải là những người ông từng quen biết từ nhỏ cho đến tuổi sắp về hưu: những ông trưởng ga lẩm cẩm hay hách dịch, những cô bán vé vừa đọc tiểu thuyết diễm tình vừa lơ đãng làm việc chiếu lệ, những người bẻ ghi chỉ thực sự giúp ích cho đời trong mỗi cái việc kéo cây cần sắt để đoàn tàu chạy về một đường rầy khác (việc này dễ ợt, một đứa con nít mạnh tay một chút cũng làm được), những ông phó ga thổi tu huýt phất cờ cho tàu chạy rồi dành thời giờ còn lại của cả đời để uống nước trà hút thuốc, những chef-train tương tự như ông hoặc kém hơn ông, những hành khách vô danh, những chị buôn hàng chuyến ngoan ngoãn giả vờ và nhanh nhẩu điêu ngoa... Ông, một người như ông mà lại chịu trách nhiệm trước những hạng người trên sao? Không bao giờ! Nhân dân là hằng hà sa số những người cao quí, tốt đẹp, của muôn vạn năm trước và muôn vạn năm sau. Đó là Lịch sử, đó là Tương lai, đó là Nhân loại, đó là Cuộc đời. Ông chỉ có thể chịu trách nhiệm trước Lịch sử, Tương lai, Nhân loại, Cuộc đời, chứ không chịu trách nhiệm trước thằng cha căng chú kiết nào hết!

Ông Bỗng cảm thấy mình quan trọng quá. Ông nghiêm nét mặt, ăn nói thật đĩnh đạc, ông đổi cả cách nằm, ngồi. Ông không muốn bị "nhân dân" khinh thường. Chính vào lúc bậm môi oằn vai gánh trách nhiệm trọng đại đó, ông Bỗng chợt nhớ tới Ngô. Ông đem chuyện Ngô ra nói với Thắng. Ông đã đủ kinh nghiệm để đưa câu chuyện đi theo cái hướng mình muốn, làm như vô tình ngẫu nhiên. Ông bối rối mãi mới thú thật với Thắng:

- Tôi thật có lỗi với "nhân dân". Anh thông cảm, tôi mới dám thú thật là gia đình tôi còn có thêm một đứa con trai nữa.

Thắng cau mày hỏi gắt:

- Hắn đi lính cho Mỹ ngụy à? Hắn trốn ở đâu?

- Không phải thế! Con tôi mà lại chịu làm "lính đánh thuê"! Nó bị Mỹ ngụy bỏ tù!

Thắng thôi cau mày, nhưng giọng nói vẫn lạnh lẽo:

- Vì tội gì?

- Vì chống chính phủ Sài gòn. Nó bị giam ở lao Thừa phủ. Không biết Cách mạng đã "giải phóng" lao Thừa phủ chưa?

Thắng hớn hở khoe:

- Sao lại chưa! Ngay hôm đầu tiên Cách mạng đã chiếm nhà ngục ấy rồi. Chính đơn vị tôi lo việc đó. Con bác tên gì nhỉ?

- Nó tên Ngô!

- Ngô! Ngô! Nhiều người bị tù quá, tôi không nhớ. Nhưng chắc chắn là anh ấy đang cầm súng chiến đấu cho Cách mạng. Để tôi ghi tên rồi hỏi thăm tin anh Ngô cho bác. Bác thấy không, tôi chọn người "đại diện nhân dân" đâu có lầm lẫn! Bác cũng thuộc gia đình Cách mạng thành thị. Tốt lắm! Này, bác giúp cho Cách mạng công tác này nữa...

Sau khi kiểm chứng được rằng Ngô hiện công tác tại vùng Gia hội, ông Bỗng chính thức đứng về phía "nhân dân", trở thành một phần tử tiến bộ có môn bài. Và cũng từ đó, ông trở thành tay quản giáo nghiêm khắc của đám nhân dân nheo nhóc chui rúc trong tầng hầm trường Luật, trong đó có Diễm.

Diễm được cha "cử" về thăm nhà cùng với một bà cụ ở ngay đầu dốc Từ đàm. Ngọc dặn mang qua cho anh hộp đồ nghề y khoa và một số thuốc gia dụng còn lại nhà. Bà Bỗng kê hẳn một danh mục những thứ cần thiết, dài đến hơn trang giấy vở học trò, không thiếu thứ gì trong danh mục ấy, từ hộp tăm cho tới miếng giẻ lau chén bát.

Một vài gia đình cũng ở khu cư xá hỏa xa nhờ Diễm qua nhà họ mang giúp một ít gạo và mắm muối. Số người nhờ vả quá nhiều, vì đây là lần đầu có người được về khu hỏa xa.

Ông Bỗng muốn biểu diễn nguyên tác "pháp bất vị thân", nên cho những gia đình thuộc các khu vực khác về thăm nhà trước.

Diễm sợ me lục lạo những đồ đạt riêng của mình, nên giấu vào nón chiếc phong bì đựng thư từ của Ngữ mang theo.

Nàng quặn thắt cả lòng khi vừa bước ra đường. Những loạt súng nổ, những đợt oanh tạc, nói chung là âm thanh của chiến tranh lọt được qua lổ thông hơi dù sao chỉ là những tiếng động lặp lại, tiếng này khác tiếng kia ở âm độ, chưa nói hết được một phần nhỏ những gì đã xảy ra.

Diễm không thể tưởng tượng cảnh vật phố xá đã thay đổi khủng khiếp như vậy. Bầu trời vẫn xám xịt màu chì, những nhánh cây bị đạn gục xuống, nằm ngổn ngang trên lối đi. Bên này cầu, một căn nhà mái ngói bị pháo kích sụp hẳn chái trước, vôi vữa, gạch ngói văng ra đến tận lòng đường. Phố xá không có một bóng người lai vãng, trừ hai người bộ đội cầm súng đứng gác ở bên kia cây cầu xi măng. Xác một chiếc xe Jeep bị bắn cháy ở khúc quanh rẽ xuống An cựu, sức nóng làm chảy một khoảng đường nhựa. Khung kính vỡ rạn trên xác xe cũng ám khói, một dấu đạn nằm ngay chỗ tay lái. Khung cảnh đổ nát trên bờ tương phản với mặt sóng xanh lặng lờ thanh bình của con sông đào. Tự nhiên Diễm thấy lòng nao nao. Mắt nàng cay. Nàng không cầm được nước mắt, thút thít khóc. Bà cụ đi cùng với Diễm hỏi:

- Cháu làm sao vậy?

Diễm giấu mặt vào nón, chối:

- Không có gì, bà ạ! Cháu bị bụi bay vào mắt.

Bà cụ dặn Diễm trước khi đi thẳng lên dốc Từ đàm:

- Nhà bà ở chỗ kia, chỗ có mấy đống gạch đó. Cháu ghé kêu bà nhé!

Diễm đáp: "Dạ", rồi rẽ về phía tay phải.

Nàng bật khóc lớn khi thấy cảnh hoang tàn đổ nát trước mắt. Mấy hôm tản cư qua trường Luật, cả khu hỏa xa bị oanh tạc và pháo kích thêm nhiều lần nữa. Con đường lên Kim long rẽ qua cầu Bạch hổ là sinh lộ huyết mạch nối liền lực lượng Cộng sản phía tả ngạn với hữu ngạn, cho nên chốt ga trở thành điểm chiến lược quan trọng cả hai bên Cộng sản và quan đồng minh đều muốn chiếm giữ. Sau khi giải tỏa được khu MACV, quân đội Mỹ giải tỏa được các vùng chung quanh, chiếm lại khu Bưu điện, khu Đại học, trường Jeanne d'Arc, Ty Cảnh sát... biến cả khuôn viên trường Ðại học Sư phạm thành trung tâm tạm cư của người tị nạn quanh vùng. Cộng sản không thể liên lạc qua lại trên cầu Trường tiền nên phải cố giữ cho được con đường huyết mạch qua cầu Bạch hổ. Cuộc giao tranh đẫm máu giữa Thủy quân Lục chiến Mỹ và quân Cộng sản dọc theo các công ốc bên này sông gay go và chậm chạp, vì cả hai bên đều quyết tâm chiếm giữ cho được các mục tiêu. Khu bệnh viện vẫn còn đang bị cộng sản kiểm soát, mặc dù Thủy quân Lục chiến Mỹ đã chọc thủng được một vài tuyến tử thủ của địch. Trong khi đó, khu hỏa xa bị oanh kích dữ dội.

Diễm đứng trước cổng nhà mà không nhận ra ngôi nhà thân yêu của mình được nữa. Cảnh vật trở nên trống trải, trơ trụi hơn. Nàng có thể nhìn được cả những toa xe cũ đậu ở tận phía trong xa, trước đây bị cây cối che lấp. Ngôi nhà của Diễm bị sụp hẳn phần phía trước, mái ngói bị sức nổ cuốn mất chỉ còn trơ vài cây kèo gãy còn dính vào bức tường gạch. Cửa lớn cửa sổ bị ngã sập xuống, nằm vắt lên thành rào. Mùi sắt nung khét lẹt pha lẫn với mùi vôi nồng làm cho Diễm hắt hơi khi nàng khom người chui vào bên trong. Phòng khách hoàn toàn đổ nát, bộ xa lông mới bị mảnh ngói và kèo cột gãy rơi xuống đè lên trên. Chái phía sau nhà, gồm nhà bếp, và căn buồng nhỏ của Diễm vẫn còn nguyên, tuy mấy cánh cửa sổ lá sách cũng bị hơi nổ thổi văng.

Đồ đạc trong nhà dường như đã bị kẻ lạ mặt vào sục sạo lấy đi, nên các thức ăn được chẳng còn gì. Diễm nhớ lời mẹ dặn tìm hai cái xô đựng nước ở dưới bếp cũng không thấy đâu! Nếu giở bản danh mục của bà Bỗng, chắc chắn Diễm chỉ nhặt nhạnh được đôi ba thứ không cần thiết như hộp tăm, miếng giẻ lau, lọ tương ớt, cái dao. May mắn nàng còn tìm ra được cây đèn bão dưới một đống ngổn ngang những miếng ván gãy xơ và ngói vỡ.

Trong buồng của Diễm, cái giường chỉ còn tấm liếp tre. Tấm chiếu trắng, hai cái gối, cái mền xám đã bị lấy mất. Ðồ đạc lặt vặt bị xáo tung. Nàng chán nản ngồi thừ lên giường không biết phải làm gì. Nước mắt chảy lặng lẽ trên đôi má bám bụi. Diễm không màng đưa ống tay lên gạt nước mắt, tủi thân khóc lớn. Nàng thấy cuộc đời tăm tối, khắc nghiệt, vô lý, khó hiểu. Cuộc đời không đáng sống! Nếu có đủ can đảm, nàng muốn được chết giữa cảnh hoang tàn này, giữa đống vôi vữa gạch ngói ngổn ngang mà mỗi một mảnh ngói, mỗi một hạt vôi mỗi một thớ gỗ đều đã từng chứng kiến theo dõi nàng từ lúc sinh ra cho đến lúc trưởng thành, đều đã từng nghe nàng cười khi vui và thổn thức lúc đau khổ. Những bức tường đổ kia từng nghe những thì thào mơ ước của nàng, những cánh cửa sổ đó từng che chở ấp ủ giúp nàng những giấc mộng. Tất cả tan hết rồi! Mất hết rồi!

Diễm cảm thấy trơ trọi, bất lực. Nàng nằm sấp xuống giường. Bụi vôi trên tấm liếp tre xông vào mũi, nàng cố dằn để khỏi hắt hơi, nằm úp mặt xuống tấm liếp để hít cho trọn mùi vị còn lại của căn buồng yêu dấu. Nàng vừa khóc vừa thì thào:

- Hết rồi. Thôi hết cả rồi! Không còn gì nữa!

Diễm nằm chết lịm như thế không biết bao lâu. Dần dần lòng nàng vơi bớt nỗi thống khổ. Diễm ngồi dậy, và chợt nhớ đã bỏ quên cái nón và phong bì thư ở đâu đó. Nàng nôn nao chạy ra phía căn phòng khách đã sập. Cái nón nằm đó, giữa đám ngói vụn. Nàng chơi vơi nghĩ tới Ngữ.

- Anh ở đâu hở Ngữ? Anh còn sống hay đã chết rồi? Ngữ ơi! Hãy đến cứu em! Cứu em!

Diễm nức nở khóc, giữa ngôi nhà hoang tàn, lâu lâu ngừng lại lắng nghe những loạt súng điểm nhịp cho cuộc chiến chưa biết về đâu!

 

Nguyễn Mộng Giác

Bình luận