Nơi lưu giữ những tác phẩm của Nhà Văn Nguyễn Mộng Giác (1940-2012)
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Phần Hai - Chương 2 - Những bước vô chiêu của Lệnh Hồ Xung

Chỉ mục bài viết

(Nỗi Băn Khoăn Của Kim Dung - Phần Hai - Chương 2 - Những bước vô chiêu của Lệnh Hồ Xung)

THỰC TRẠNG PHÂN HÓA CỦA CÁC CHÍNH PHÁI

Đến bộ truyện Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung hết sức bi quan khi nhận định về chính phái. Thực trạng phân hoá không những phát sinh giữa phái khác, mà còn manh nha rồi phát tác trầm trọng tạo cảnh nồi da nấu thịt giữa các kiếm khách cùng một phái với nhau.

Trong phái Hoa Sơn, có một mối thù truyền kiếp giữa phe khí tông và kiếm tông đến độ Nhạc Bất Quần thà mất một tên đệ tử tài ba còn hơn thấy hắn trọng kiếm hơn trọng khí. Dù Nhạc Bất Quần có che giấu, cái quá khứ đẫm máu của cuộc tương tàn giữa hai phe Hoa sơn vẫn làm cho mọi người trong võ lâm rùng mình.

 

Trong phái Hành Sơn, do tính tình khác biệt, gia cảnh sang hèn, vẫn có sự hiềm khích âm ỉ giữa Mạc Đại tiên sinh và Lưu Chính Phong. Lúc Tung Sơn âm mưu bức tử Lưu Chính Phong, Mạc Đại tiên sinh không ra tay viện trợ. Mãi về sau, khi biết chắc chắn Lưu Chính Phong sắp chết, Mạc Đại tiên sinh mới quyết định giết Phí Bân. Người đọc có thể xem đó là hành động cuối cùng của một chưởng môn chính phái để chuộc lỗi kẻ sắp lìa đời, tự xoá hết mọi mặc cảm tội lỗi để thảnh thơi hưởng hết cuộc đời thừa.

Trong phái Thái Sơn, trên Phong thiền đài, chính sư thúc của chưởng môn là Ngọc Cơ Tử đã giết chết chưởng môn là Thiên Môn đạo nhân. Đến lúc Ngọc Cơ Tử trở thành phế nhân cụt cả hai tay, thì Ngọc Khánh Tử lại tranh giành chức chưởng môn Thái Sơn với Ngọc Âm Tử, làm trò cười cho hàng nghìn người cả chính lẫn tà.

Sự phân hoá đó bắt nguồn ngay trong bản chất các phái thuộc phe chính. Hầu hết danh môn chính phái đều là những kết tập cục bộ. Mỗi phái vì cùng một nguồn gốc võ học, tự họp nhau lại thành một nhóm người có tổ chức. Trên có chưởng môn, truyền lưu theo võ công, giữ bí quyết tuyệt học của môn phái. Sau đó, theo trình độ, phân chia địa vị huynh đệ.

Bản chất của môn phái là sự độc lập, tự tồn. Lý tưởng của võ lâm là làm thế nào để mỗi phái được tồn tại lâu dài ở một địa phương riêng biệt không xâm phạm quyền lợi khu vực của nhau. Đào Hoa Tiên tuy không được bình thường về thần kinh, nhưng nhờ Doanh Doanh, mớm lời đã nói rất đúng thực trạng chia rẽ ngay trong cách tạo lập các chính phái:

"Ngũ Nhạc kiếm phái hợp nhất thì được, nhưng năm trái núi Thái Sơn, Hành Sơn, Hoa Sơn, Hằng Sơn và Tung Sơn lại ở năm phương vị khác nhau: đông, nam, tây, bắc, trung, thì làm sao hợp liền vào một khối được? Tả Lãnh Thiền đâu phải đức Thượng đế có quyền di sơn đảo hải để chụm năm tòa núi lớn này vào một chỗ."
(trang 2042 quyển 2)

Vì được tạo thành trong tinh thần cục bộ địa phương và muốn duy trì trạng thái biệt lập về quyền lợi và bổn phận, nên giới luật của chính phái có chủ ý duy trì trật tự cố hữu, bảo vệ nguyên trạng. Ngay cả hai phái võ uy tín về phương diện đạo đức là Võ Đang và Thiếu Lâm cũng có một thái độ thiếu dứt khoát đối với thực trạng bất công bóc lột tàn nhẫn của xã hội. Chính phái thường làm ngơ trước bất công, gian tà, hay nếu có thái độ, chỉ là một thái độ hoà hoãn, gần như khuyến khích. Chính phái thường hô hào bảo vệ một thứ tôn ti trật tự có lợi cho thiếu số đặc quyền.

Chúng ta cứ lấy thất giới của Hoa Sơn làm bằng chứng.

Trong lễ bái sư của Lâm Bình Chi, Nhạc Bất Quần uỷ nhiệm cho Lệnh Hồ Xung long trọng tuyên đọc bảy điều giới của môn phái. Lệnh Hồ Xung liền nói:

"Lâm sư đệ hãy nghe đây.

Nhất giới của bản phái là lừa thầy diệt tổ, bất kính tôn trưởng.

Nhị giới là ỷ mạnh hiếp yếu, gia hại kẻ vô tội.

Tam giới là gian dâm hiếu sắc, trêu cợt phụ nữ.

Tứ giới là đồng môn ghen ghét, tàn sát lẫn nhau.

Ngũ giới là thấy lợi quên nghĩa, trộm cắp tài vật

Lục giới là ngông cuồng tự đại, khinh khi đồng loại

Thất giới là giao thông với địch, cấu kết bọn yêu tà.

Hoa Sơn thất giới là thế đó. Đã là đệ tử bản môn nhất luật phải thi hành.

(trang 464 Tiếu ngạo giang hồ 3)

Chúng ta không dám nghi ngờ trí nhớ xuất chúng của Lệnh Hồ Xung nên chắc chắn đây là những giới luật mọi môn phái Hoa Sơn phải thuộc, để làm phương châm cho hành động. Suốt bảy điều răn, chúng ta đã thấy gì?

- Điều thứ nhất và điều thứ tư có mục đích bảo vệ trật tự có sẵn trong môn phái. Điều thứ nhất (lừa thầy diệt tổ, bất kính tôn trưởng) nhằm bảo vệ trật tự hàng dọc và điều thứ tư (đồng môn ghen ghét, tàn sát lẫn nhau) nhằm bảo vệ trật tự hàng ngang. Muốn bảo vệ trật tự đó, người lập thất giới đã tiên liệu những ngoại lệ nguy hiểm.

- Trước hết phải ngăn ngừa uy quyền của kẻ thật xuất sắc về võ công hay nắm địa vị thuận lợi để lạm dụng chức vụ. Điều hai ngăn ngừa kẻ mạnh hiếp yếu, điều sáu ngăn ngừa kẻ có tài tự cao tự đại. Còn điều ba và điều năm ngăn ngừa những lạm dụng của kẻ nắm ưu thế, lạm dụng tiền tài và tình yêu.

- Tuy vậy, điều răn cuối cùng mới là điều quan trọng nhất, đập mạnh vào trí nhớ kẻ nhập môn. Đó là điều giao thương với địch, cấu kết bọn yêu tà.

Nếu không bị ám ảnh bởi thù nhà, chắc chắn Lâm Bình Chi không khỏi thắc mắc tự hỏi: Thế nào là địch? Thế nào là yêu tà? Không phải vô tình mà các cao thủ võ lâm sáng lập Hoa Sơn phải dành rất nhiều mơ hồ trong cách định nghĩa chữ ĐỊCH, chữ YÊU TÀ. Sự chừa rất nhiều tự do để suy diễn quy nạp về đối phương có mục đích ngăn ngừa hầu hết, nếu không bảo là tất cả, các ảnh hưởng ngoại lai. Những gì xâm phạm đến trật tự có sẵn, đều có thể bị gắn chữ YÊU TÀ. Những nhân tài dám ra ngoài khuôn khổ có sẵn, có thể bị xem là ĐỊCH.

Không biết các giới luật các phái khác trong Ngũ nhạc kiếm như thế nào, chúng ta chỉ xét riêng trường hợp Hoa Sơn, đã thấy thất giới điều này là cái gươm bén dành cho chưởng môn, để giữ vững trật tự, duy trì nguyên trạng, cắt đứt mọi hy vọng hoài bão canh tân cho phù hợp với hoàn cảnh.

Như vậy, xét chung, tính chất cục bộ là bản chất của chính phái. Gạt bỏ âm mưu hiệp nhất để làm minh chủ thống nhất võ lâm, chúng ta thấy lập luận của Nhạc Bất Quần ở Phong Thiền đài thật đáng với thực trạng phe chính:

"Sự phân tán trên chốn giang hồ trải hàng ngàn năm đã gây ra những vụ thù hằn chém giết không bao giờ chấm dứt. Số bạn đồng đạo võ lâm bị chết uổng không biết bao nhiêu mà kể. Xét cho cùng thì kiếp nạn giang hồ gây ra chỉ vì ý kiến riêng rẽ bè phái. Tại hạ nghĩ rằng nếu khắp võ lâm không còn môn hộ bang phái riêng biệt, thiên hạ biến thành một nhà, ai ai cũng coi nhau như huynh đệ đồng đạo thì những tai nạn huyết kiếp mười phần bớt được chín. Các vị anh hùng hào kiệt đã không phải bỏ mình trong lúc tráng niên thì dĩ nhiên số cô nhi quả phụ trên đời không còn mấy nữa.

Đáng tiếc là các môn phái võ lâm tu luyện võ thuật theo những nguồn gốc khác nhau, vì thế môn phái đã có sự cách biệt do những môn võ công gây nên rồi. Như vậy mà bây giờ muốn cho những người luyện võ không phân biệt tôn phái để thành thiên hạ đệ nhất gia là một việc khó khăn không biết đến đâu mà nói."
(trang 2046, 2047 TNGH quyển 12)

Sau đó, bản chất của chính phái cũng là tính chất bảo thủ. Nó đưa hành động nhân danh phe chính đến ngõ cụt phi lý hoặc biến thiện chí thế thiên hành đạo của họ thành cố chấp, mâu thuẫn. Không có gì nực cười bằng cảnh vì đuổi theo tru diệt tên yêu tà Hướng Vân Thiên, hằng trăm kiếm khách phe chính sẵn sàng kề cận hợp tác với hàng trăm tên yêu tà của ma giáo. Biên giới chính tà không còn nữa rồi, và từ trên trà đình uống rượu với Hướng Vân Thiên, tên lãng tử phiêu bạt Lệnh Hồ Xung nhìn xuống đám người lúc nhúc dưới kia, không thể nhận ra ai là kẻ đáng trọng, ai là kẻ tà ma mà bảy điều răn của Hoa Sơn đã nhắc nhở đến.

 



NỖI BĂN KHOĂN CỦA LỆNH HỒ XUNG

Giống như Trương Vô Kỵ, Lệnh Hồ Xung bước chân vào chốn giang hồ là cuộc đời nhọc nhằn tanh tưởi này với một mối băn khoăn. Có được cái quật cường chí tình của Kiều Phong, cộng với sự hoạt bát lãng mạn của Đoàn Dự, thêm vào sự hào phóng liều lĩnh của tên lãng tử, Lệnh Hồ Xung đã được Kim Dung cung cấp cho đầy đủ mọi hành trang để thay mặt ông giải quyết một vấn nạn cấp thiết thời đại.

Trương Vô Kỵ vẽ lông mày cho Triệu Minh, chàng công tử cành vàng lá ngọc nước Đại Lý có lẽ cũng đang vẽ lông mày cho Vương Ngọc Yến.

Đến lượt Lệnh Hồ Xung, chàng can đảm nhìn thẳng vào vấn đề, không chạy trốn, không tự dựng một màn giả trang để đóng vai đạo tặc hay hiền triết. Lệnh Hồ Xung đã tự nhủ:

"Bịt tai để ăn cắp nhạc ngựa là tự dối mình và dối người. Lệnh hồ Xung này khi nào lại hành động thế được"
(trang 521 quyển 3)

Can đảm và thẳng thắn, Lệnh hồ Xung nhìn thẳng vào anh em và bọn yêu tà, nhìn sâu đằng sau cái mặt nạ lòe loẹt son phấn. Chàng hỏi Lưu Chính Phong của phái Hành Sơn:

"Lưu sư thúc, chúng ta tự hào theo đường nghĩa hiệp, thề chẳng chung trời với bọn tà ma. hai chữ nghĩa hiệp đó nghĩa làm sao? Khinh khi người trọng thương, tàn sát một cô gái nhỏ vô tội, có đáng kể là nghĩa hiệp không? (ám chỉ hành động đê hèn của Phí Bân).

Khúc Dương thở dài nói:

- Những chuyện này bọn ma giáo chúng ta cũng không làm đâu Lệnh Hồ huynh đệ".
(trang 420, quyển 5)

Qua bao nhiêu chuyện trường giang, Kim Dung vẫn trở lại khởi điểm: làm sao phân biệt được chính với tà để tìm lại niềm tin đã mất nơi một nhà nho hết sức mong muốn tái lập đạo đức, giữ trọn tình người.

Hợp tấu khúc Tiếu ngạo giang hồ giữa Khúc Dương và Lưu Chính Phong chỉ là một trường hợp đặc biệt, một kẽ hở họa hoằn để con người siêu thoát trên vòng thị phi đố kỵ. Tuy giữ được nhạc phổ, Lệnh Hồ Xung lại chưa thể đem cái lý tưởng tốt đẹp của Tiếu Ngạo Giang Hồ thực hiện trong đời, soi sáng ranh giới chính tà. Mà thực ra, đến cuối truyện, độc giả vẫn thấy chưa có ai can đảm vượt lên trên những quyền lợi, những thành kiến và cưỡng chế xã hội như Khúc Dương và Lưu Chính Phong. Thành thử, khúc Tiếu ngạo giang hồ chỉ thoảng đưa đâu đó, thật xa xôi, như một giấc mơ huyền hồ.

Trong lúc vẫn còn liên luỵ với các cuộc tranh chấp giữa đời, nỗi băn khoăn của Lệnh Hồ Xung vẫn còn đó: Ai là chính, ai là tà? Chân tiểu nhân hay nguỵ quân tử?

Lệnh Hồ Xung không giấu được vẻ do dự trước mặt sư phụ nên Nhạc Bất Quần đã nghiêm trang đặt vấn đề:

- Xung nhi, việc này quan hệ rất lớn đến sự hưng suy vinh nhục của phái Hoa Sơn, mà cũng quan hệ đến cả sự yên nguy thành bại của đời ngươi nữa. Ta chỉ hỏi ngươi một câu:

Ngươi thấy người ma giáo có ghét như kẻ thù và quyết tru diệt chẳng dung tha không?

Lệnh Hồ Xung không biết trả lời thế nào. Gã trân trân nhìn sư phụ đứng ngẩn ngơ ra. Lệnh Hồ Xung vẫn hoài nghi trong dạ.

- Sau này nếu ta gặp người trong ma giáo, ta có nên hỏi cho biết rõ phải quấy, hay là hạ thủ giết ngay... Có thật ma giáo chẳng một ai tử tế?
(trang 468 quyển 3)

Không chịu nổi sự băn khoăn dày vò, có lúc Lệnh Hồ Xung muốn bịt tai lại, nhắm mắt chấp nhận một giải pháp dễ dàng đánh lừa lương tâm:

"Phải rồi! Nếu đã là người tốt sao còn gia nhập ma giáo. Nếu họ lầm đường, thì cũng lập tức rút lui mới phải. họ không chịu rút lui tức là cam tâm về phe tà ma để gây hoạ cho người thế gian rồi".
(trang 471 quyển 3)

Nhưng bản tính vốn thành thực, Lệnh Hồ Xung chỉ có thể bịt tai làm người điếc trước mặt một tên nguỵ quân tử như Nhạc Bất Quần. Đối với người trung thực như Phong Thanh Dương, Lệnh Hồ Xung nói thật những gì mình nghĩ.

Khi đã không còn tin ở người, không thể phân biệt được nguỵ quân tử và chân tiểu nhân, thì chỉ còn một đường lối xử sự là tin ở ta, vì ta.

"Lệnh Hồ Xung cười nói:

- Đối với kẻ đê hèn vô liêm sỉ cũng phải dùng đến cách đê hèn vô liêm sỉ.

Phong Thanh Dương nghiêm sắc mặt hỏi:

- Vậy đối phó với bậc chính nhân quân tử thì sao?

Lệnh Hồ Xung ngần ngừ nói:

- Chính nhân quân tử ư? Đối với chính nhân quân tử ư?
Nếu đối phương là bậc chính nhân quân tử mà muốn giết đồ tôn, dĩ nhiên đồ tôn chẳng thể cam chịu chết. Gặp trường hợp bất đắc dĩ thì dù là thủ đoạn đê hèn vô liêm sỉ cũng phải nhẫn nhục dùng vậy, chứ biết làm sao?

(trang 615 quyển 4)

Đó là lối giải quyết can đảm, dám nhìn thẳng vào vấn đề, không trốn nấp vào chiêu bài hay lý thuyết. Triết học và tôn giáo phiêu lưu qua bao dòng suối dòng sông, cuối cùng cũng chỉ đến được một bến tiêu sơ: trở về lại lòng ta. Là một kiếm khách giữa chốn giang hồ tráo trở, Lệnh Hồ Xung không thể làm gì khác hơn là thành thực lấy mình làm phương châm xử thế. Giữa cảnh náo loạn ồn ào của biết bao thù hằn mưu đồ giành giật, Lệnh Hồ Xung chỉ biết sống theo một lẽ giản dị: trời sinh ta ra sao thì ta sống như vậy, vốn vậy, như nước chảy xuống triền núi thấp, như gió thổi vào khoảng không, nghĩa là dùng đôi mắt trẻ thơ mà nhìn cuộc đời.

 



GIẢI PHÁP CHO CUỘC TRANH CHẤP
VÔ CHIÊU THẮNG HỮU CHIÊU


Tinh thần ấy hoàn toàn phù hợp với nguyên lý của Độc cô cửu kiếm: lấy vô chiêu thắng hữu chiêu. Ở Tiếu Ngạo Giang Hồ, Phong Thanh Dương xuất hiện như một bóng ma thoạt đến thoạt đi. Trong võ lâm, người ta đã tưởng vị tiền bối thuộc kiếm tông của Hoa Sơn đã về trời từ lâu. Độc cô cửu kiếm tưởng đã thất truyền, không ngờ vẫn còn đó, ngay trong lòng người.

Xưa nay, các cao thủ chạy đi tìm một định chế cho môn phái, thiết lập hệ thống tinh diệu các kiếm thức, tưởng như vậy là đưa võ học tới mức siêu việt. Nhưng họ đâu có ngờ, càng đặt ra nguyên tác luật lệ, con người càng mất hết sự sáng tạo phóng khoáng, nguồn tự do thiêng liêng và đi gần về những cưỡng chế phi nhân.

Bây giờ chân lý của Phong Thanh Dương đơn giản lắm: Người sử kiếm pháp chứ không phải kiếm pháp sử người.

Những kẻ đầu tiên gầy dựng môn phái, phát minh kiếm thức muốn minh chứng sức mạnh siêu việt của con người, xác định giá trị sáng tạo vốn là niềm hãnh diện của nhân loại giữa vũ trụ chim muông cỏ cây đất đá. Bàn tay này đây biết lấy đá thành vật bén chém đẵn gỗ, bàn chân này đây biết lội qua sông sâu nước lũ và vượt núi hiểm trở chất ngất. Từ rừng hoang con người biến thành đồng xanh. Từ thác ghềnh, con người biết dẫn nước vào ruộng cằn, vào ao nuôi cá, để hơn thế nữa, biết xếp đặt biến chế những cử động vụng về vô nghĩa thành chưởng pháp, kiếm thức. Con đường sáng tác mời gọi những cuộc phiêu lưu không ngừng, chờ đón sự hăm hở, nghĩa là luôn đòi hỏi sự biến hoá. Bản chất đó là cái động, cái tự nhiên. Triết lý gọi nó là dịch. Tôn giáo gọi nó là vô chấp. Mới nghe Phong Thanh Dương nói, ai cũng tưởng đó là những lời phóng nghiệm, phẫn nộ, phủ nhận hết, phủi tay rồi cười ha hả mà đi. Nhưng đọc kỹ hơn, chúng ta mới thấy Kim Dung đã gửi gắm vào đấy tất cả niềm tin, cho đó là lối giải quyết cho mối băn khoăn dày vò tất cả chúng ta. Phong Thanh Dương nói:

- Đáng tiếc là bọn họ không hiểu rõ chiêu số là phần tĩnh, người phát chiêu mới là phần động. Chiêu số tĩnh phá giải kỳ tuyệt đến đâu mà khi gặp chiêu số động liền chịu bó tay, thì chỉ còn đường để mặc cho người ta tru lục. Vậy ngươi phải nghĩ luôn luôn đến chữ động. Học và sử đều cần hướng về chiêu số động, nếu cứ ì ra như cục đất thì có thuộc đến hàng ngàn hàng vạn chiêu số tĩnh, mà gặp phải tay cao thủ chân chính là bị họ phá giải sạch sành sanh.
(trang599 Tiếu ngạo giang hồ)

Phong Thanh Dương dặn thêm:

"Nhất thiết ngươi nên thuận theo tự nhiên. Chỗ nào không làm được thì đừng làm. Chỗ nào phải thôi thì thôi ngay. Không thể cho dính liền lại thành một xâu thì bỏ quách.

Tóm lại, đừng có chút nào miễn cưỡng".
(trang 601, 602 Tiếu ngạo giang hồ)

Đúng là lời thuyết giáo của môn đồ Lão Đam hay Trang Chu. Cái tinh thần trầm mặc mà rộn rã, siêu thoát mà tích cực tham dự, phóng khoáng và bao la của triết lý Hoa nam lồng trong nguyên tắc luyện kiếm. Thái độ sống hợp lý nhất theo Phong Thanh Dương là hoà đồng trọn vẹn vào cảnh ngộ, thích nghi tự nhiên, đến nỗi không còn có lấy một chút câu thúc cưỡng ép nào từ thiên nhiên, xã hội hay bản thân. Quan niệm ấy giống như lời khuyên của Lão:

Nếu gặp trời nóng hãy đổ mồ hôi

Gặp lạnh thì hãy run lên.

hay thấp thoáng trong hầu hết tư tưởng nho gia và đạo gia xưa nay. Sống trong một môi trường hoàn toàn khác, bị đưa đẩy vào những thế đứng bất trắc không lối thoát, Kim Dung vẫn còn giữ được nguyên vẹn truyền thống tư tưởng đông phương. Cái động trong Độc cô cửu kiếm là cái dịch của triết lý. Tất cả đều chuyển vận. Thuận lẽ chuyển dịch là thuận thiên mệnh. Định chế, khuôn mẫu, luật lệ, tập tục... chỉ là những cố gắng vô vọng của xã hội loài người, muốn ôm lấy vầng trăng sáng hay ngăn dòng nước chảy. Quán thông căn bản của Độc cô cửu kiếm là không để tâm bận rộn về những chiêu thức khô cằn mà giữ cho tâm hư, tâm không, thuận tay đưa kiếm, thuận thời đánh ra, khỏi cần lo âu đến công hay thủ. Chiêu thức tự nhiên mà đến như hoa nở mùa xuân, rồi cũng tự nhiên mà tiêu như hoa tàn mùa hạ. Rồi, Lệnh Hồ Xung chưa kịp nghĩ, không kịp nghĩ, tự nhiên thế kiếm biến chiêu như cây kết trái khi hoa vừa tàn, để rồi lại biến mất như lá thu rơi.

Cứ như vậy, cứ như vậy, hư chiêu tự nhiên biến thành tuyệt chiêu, và cả người sử kiếm linh hoạt hào khởi phát động chiêu thức theo ý mình tung tăng hớn hở.

Chúng ta nghĩ đến cái sảng khoái tuyệt diệu của Đông Pha trên sông Xích Bích:

Gió hiu hiu mặt nước như tờ

Trăng chênh chếch đều non mới ló

Thuyền một lá xông ngang gành bạch lộ

Buông chèo hoa len lói chốn sơn cương

(Nguyễn Công Trứ)

Thật vậy, Lệnh hồ xung cũng đứng trước những đe doạ sinh mệnh trầm tọng như Tô thức. Thác gành nhiều sóng ngầm đá nhọn, sương lại bao phủ mặt sông. Tô Thức thuận lòng trời, hiểu lẽ dịch nên hớn hở như người quên đời một mình mà bay lên tiên, xông ngang qua gành không sợ thác lũ đá ngầm, và tuy sương trắng bao phủ đây đó vẫn dám một chiếc thuyền nhỏ, một túi trăng gió, len lỏi giữa những sườn núi lạ. Lệnh Hồ Xung cũng đã phải đứng trước cái chết kề cận trong tơ tóc, nhưng chàng mặc tình uyển chuyển thư thái với Độc cô cửu kiếm, không bận tâm các tuyệt học võ lâm. Những địch thủ giao đấu với Lệnh Hồ Xung đều sửng sờ, không biết trả đòn thế nào trước những chiêu thức kỳ dị này. Bị thói quen mài dũa tê liệt cả động năng nên khao khát tìm những định chế câu thúc, người ta không thể hiểu được, không thể tưởng tượng nổi trong võ học lại có những chiêu đơn giản vụng về, sai cả ước lệ, như cục đá chưa mài hay một khóm hoa dại bên bờ suối. Nhưng đối diện với thế kiếm trầm tĩnh mà huyền hoặc, vụng về thô thiển mà tinh diệu, họ không biết phải làm gì bây giờ. Trong Độc cô cửu kiếm, cái tĩnh chứa không biết bao nhiêu cái rắc rối, giống như cảnh vật vũ trụ qua mắt một nhà đạo học:

Hoa nở luống hay tin gió

Đầm thanh còn thấy dáng trăng

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Thành ra muốn khỏi có ngộ nhận, có lẽ phải đổi yếu quyết của Độc cô cửu kiếm VÔ CHIÊU THẮNG HỮU CHIÊU thành ra HƯ CHIÊU THẮNG HỮU CHIÊU. Chữ HƯ theo quan niệm TÂM HƯ của Lão Trang. Nếu dùng chữ VÔ, phải hiểu nghĩa chữ VÔ theo câu kinh Phật: ƯNG VÔ SỞ TRỤ NHI SINH KỲ TÂM. (1)

Chúng ta tin với một tinh thần tích cực sinh động như vậy, sau khi thụ giáo Phong Thanh Dương, Lệnh Hồ Xung phải thắng mọi trở ngại, san bằng mọi giả tạo, lột trần hết nguỵ kế núp bóng sau màn sương đạo đức nhân nghĩa hay công ích.

Lệnh Hồ Xung đã thành công thực.

Dùng Độc Cô cửu kiếm, chàng đã đâm mù mười mấy tên đệ tử Tả Lãnh Thiền hèn nhát bịt mặt để ra tay hạ sát thầy trò Hoa Sơn.

Chàng đã cương quyết ngăn cản không cho hai tên đồ đệ Võ Đang và Thiếu Lâm trên Ngũ Bá Cương vào uy hiếp Doanh Doanh.

Chàng đã khẳng khái dùng Độc cô cửu kiếm viện trợ Hướng Vân Thiên khi hữu sứ bị mấy trăm kiếm khách cả chính lẫn tà bao vây tiêu diệt. Chàng ngang nhiên lên trà đình uống rượu với Hướng Vân Thiên, nổi hào khí tuyên bố:

- Giữa đường thấy chuyện bất bằng rút dao tương trợ là lẽ thường.

Chàng đã dùng vô chiêu đánh bại Nhạc Bất Quần trên núi Thiếu Thất.

Trong những lúc gay cấn, khi những tên nguỵ quân tử mặc áo xanh tú tài nói điều nhân nghĩa mà âm mưu đê hèn, khi chính tà không phân biệt, Lệnh Hồ Xung lại dùng Độc cô cửu kiếm để giải quyết. Thực vậy, bọn Tung Sơn bịt mặt giết hại đồng môn trong Ngũ Nhạc Kiếm phái là bọn chính giả trá. Bọn kiếm khách vì muốn giết Hướng Vân Thiên mà liên lạc hợp tác với đồ đệ Đông Phương Bất Bại là bọn chính giả trá. Nhạc Bất Quần là tên nguỵ quân tử. Những kẻ làm nhơ danh chính phái, làm mờ ranh giới thiện ác, đáng bị trừng trị bằng Độc cô cửu kiếm.

Kim Dung đã cho chàng lãng tử của mình lấy tinh thần vô chấp phóng khoáng, cảm hoá bọn cố chấp bảo thủ.

Nhưng, có thực Lệnh Hồ Xung đã thắng?

Có thực Kim Dung đã tìm ra một phương pháp giải quyết mối băn khoăn nguyên thuỷ?

Những người đọc có ý thức, cùng đứng trong những thế tranh chấp đau lòng, bơ vơ liên tục như người Việt chúng ta với cuộc chiến hiện nay, có thể xem kinh nghiệm của Lệnh Hồ Xung là một giải pháp thoả đáng?

Chúng ta ngần ngừ không dám trả lời. Như vậy là phải!

Vì dù bản tính thế nào chăng nữa, Lệnh Hồ Xung vẫn là một người tầm thường như tất cả chúng ta. Làm sao ƯNG VÔ SỞ TRỤ, tiến đến một trạng thái đạt đạo TÂM HƯ? Làm sao lòng rỗng không, hình lại có thể khiến như tro nguội (2).

Lệnh Hồ Xung không thể quên quá khứ, thoáng trong chớp mắt không nhớ gì đến kiếm pháp Hoa Sơn hay công dưỡng dục của Nhạc Bất Quần, mối tình với Nhạc Linh San, mỗi lần tâm không hư, Lệnh Hồ Xung lại tỏ ra bối rối trước đối phương. Những lúc chàng chiến thắng vẻ vang, sử dụng tuyệt diệu được Độc cô cửu kiếm, là những lúc bất cần đời, đứng gần hố thẳm gai ốc của tuyệt vọng, nghĩa là ở cái thế chẳng đặng đừng.

Lúc phái Hoa Sơn sắp bị đại nạn trước bọn Phong Bất Bình ở miếu Dược vương, Lệnh Hồ Xung thấy rõ cái chết kế cận bên mình. Chỉ cần một loé kiếm nữa là hết còn lo âu về bệnh hoạn, đau xót vì bị ngờ vực.

"Lệnh Hồ Xung buông tiếng thở dài đưa luồng nhãn quan về phía Nhạc Linh San để nhìn lần cuối cùng. Trước khi lâm tử, hắn chỉ mong được nàng lộ vẻ tha thiết tới một chút đặng an ủi nỗi lòng. Quả nhiên, cặp mắt sáng ngời của nàng tỏ ra cực kỳ quyến luyến thiết tha. Lệnh Hồ Xung đang vui mừng thì dưới ánh lửa, hắn thấy bàn tay nhỏ bé mềm mại của Nhạc Linh San buông thõng xuống, nắm lấy bàn tay chàng trai khác, chàng trai đó chính là Lâm Bình Chi. Lòng hắn se lại".

(trang 790 quyển 5)

Sững sờ tuyệt vọng cùng cực, quên cả lòng tham sinh, Lệnh Hồ Xung mới sử được các vô chiêu của Độc cô cửu kiếm, đâm mù mắt mười mấy tên đồ đệ Tung Sơn.

Lúc được Phương Chứng đại sư chùa Thiếu Lâm cho biết mình đã bị sư phụ trục xuất khỏi Hoa Sơn, lại biết bệnh tình hết cơ cứu vãn (đến danh y Bình Nhất Chỉ cũng bó tay) Lệnh Hồ Xung liều thân, không còn tha thiết gì nữa. Không thèm nhận làm đồ đệ Phương Chứng để học Dịch cân kinh chữa bệnh:

"Lệnh Hồ Xung ra khỏi chùa Thiếu Lâm rồi ngửa mặt lên trời cười rộ một hồi. Tiếng cười chất chứa đầy vẻ thất vọng thê lương, chàng lẩm bẩm: Người chính phái coi ta như thù địch. Kẻ phái tà cũng muốn giết được ta mới vừa lòng. Chắc Lệnh Hồ Xung này không sống qua được bữa nay. Thử xem người hạ sát mình là ai?"
(trang 198 quyển 6)

Ở vào thế cùng, Lệnh Hồ Xung tìm một cách tự vẫn và có cách nào ngang tàng hào hùng cho bằng liều thân bênh vực Hướng Vân Thiên. Không ngờ trong lúc tuyệt vọng như vậy, Lệnh Hồ Xung lại sử được vô chiêu.

Thế thì bản chất cao ngạo liều lĩnh, thích hợp với thái độ vô chấp, giải pháp Độc cô cửu kiếm chỉ có thể thực hiện khi con người bị đẩy vào tận cùng của nghịch cảnh. Bị tình phụ, bị sư nương sư phụ nghi ngờ, tin rằng chính mình đã lỡ tay giết Lục Đại Hữu, Lệnh Hồ Xung tự nhận là một thứ "cô hồn vô chủ, miếu lớn không nhận, chùa nhỏ không thu, hoang sơn dã quỷ", hết còn tha thiết gắn bó với bất cứ điều gì của đời. Nhờ vậy mà mới sử dụng được Độc cô cửu kiếm.

Với những điều kiện bi đát như vậy, dễ gì con người tầm thường chúng ta có thể lấy vô chấp để thắng cố chấp.

Người Việt Nam chúng ta đã bị phụ bạc nhiều, không có lấy một niềm tin để mất, và đã giết lầm không biết bao nhiêu anh em bạn bè. Như vậy đã đủ để ở vào cái thế liều lĩnh của Lệnh Hồ Xung mà học Độc cô cửu kiếm chưa?

Chúng ta ngần ngừ là phải, vì lấy ngay kinh nghiệm Lệnh Hồ Xung, sự ngộ đạo không phải do trạng thái siêu thoát thăng hoa như ước vọng Lão Trang mà do ở chỗ chịu đựng tận cùng bi đát.

Giải pháp vô chiêu thắng hữu chiêu cũng lãng đãng huyền hồ như hình bóng Phong Thanh Dương mà thôi.

Điều đó có lẽ cảnh tỉnh được những người Việt không thể chịu đựng mãi thảm kịch phân hoá và tha hoá, đùng đùng nổi giận, đòi san bằng hết để làm lại, đòi đốt cháy hết cho lũ chuột chuyên gặm nhấm đục khoét ra mặt, sau đó dựng xây căn nhà mới.

Cho dù có đến tận cùng vực thẳm, con người vẫn khó quên hết thành kiến khó phá hết định chế để chấp nhận vô chiêu.

_________________________

(1) Kinh Kim Cương
(2) Tề vật luận. Nam hoa kinh của Trang Chu, Nhượng Tống dịch.

 


GIẢI PHÁP THỨ NHÌ:
TỊCH TÀ KIẾM PHỔ


Dù sao, đó vẫn cũng là một vương đạo.

Giải quyết bằng vương đạo, sao mà thiên nan vạn nan, khi những giải quyết bá đạo hấp dẫn quyến rũ nhởn nhơ trước mắt, trong mọi tầm tay. Chỉ cần chộp lấy là có.

Đã đành như lời Lâm Chấn Nam giải thích cho con hiểu danh hiệu cơ sở vận tải của gia đình mình:

"Phước Oai tiêu cục, chữ Phước ở trên, chữ Oai ở dưới là nói Phước nghĩa quan trọng hơn Oai phong. Nếu đem đổi ngược lại OAI PHƯỚC thì nghĩa khác hẳn đi, nó biến đổi ra LÀM OAI LÀM PHƯỚC".
(trang 23 quyển 1)

Nhưng OAI TRẤN GIANG HỒ vẫn luôn là một viễn tượng tuyệt vời. Được làm đệ nhất cao thủ để hàng hàng lớp lớp phủ phục tung hô, là một giấc mơ làm say sưa ngây ngất những kẻ có chút tài ba về võ thuật. Không nói ra, trừ những bậc cao nhân đạt đạo như Xung Hư và Phương Chứng, ai nấy đều ao ước quyền uy tuyệt đối và mênh mông như giáo chủ Triêu Dương thần giáo, ngồi đường bệ trên ngai cao, hớn hở nghe những lời tâng bốc xu nịnh:

Giáo chủ là bậc anh minh, kế hoạch không còn thiếu sót, khác nào cây đuốc rạng soi bốn bể, tạo phúc muôn dân. Cờ ra đắc thắng, mã đáo thành công. Thuộc hạ nghiêng mình khép nép tuân theo lệnh dụ, cốt sao giữ vẹn lòng trung, sá quản thân này muôn thác.
(trang 1890 quyển 10)

Thuộc hạ rất khao khát được ra mắt giáo chủ. Cứ mỗi lần được nhìn kim diện giáo chủ thì lại cảm thấy tinh thần phấn khởi, làm việc rất hăng say, toàn thân rạo rực tưởng chừng công lực trong người tăng lên bằng mười năm tu luyện.
(trang 1901 quyển 10)

Tiểu tử thuộc hết. Hàng ngày không đọc đến bảo huấn của giáo chủ là ăn không ngon miệng, ngủ không yên giấc. Hễ đọc bảo huấn của giáo chủ là luyện võ tiến bộ rất mau, đấm đá thêm phần khí lực.
(trang 1907 quyển 10)

Bọn thuộc hạ là đường chúa, phó đường chúa ở thuỷ hoả đường cùng năm vị chính phó hương chủ xin tham kiến giáo chủ văn thành võ đức, nhân nghĩa anh minh, trung hưng thánh giáo, bái chúc giáo chủ muôn năm trường trị, thống nhất giang hồ.
(trang 1946 quyển 11)

Muôn năm trường trị, thống nhất giang hồ! Bấy giờ sự phân hoá chia rẽ không còn, chính tà hết thành vấn đề. Trên ngôi cao rực rỡ hào quang, đệ nhất cao thủ trở thành thần thánh, nắm quyền sinh sát hằng vạn hằng triệu sinh linh, trên đầu, trời ở gần, tiếng phán truyền vang động, thức trăng sao mây nước dậy. Muốn thế, giải pháp gần gũi là chiếm cho được Tịch tà kiếm phổ hay Quỳ hoa bảo điển. Từ tên vô đạo như Mộc Cao Phong cho đến con người cục súc háo thắng như Dư Thương Hải, từ minh chủ Ngũ nhạc kiếm phái là Tả Lãnh Thiền cho đến chưởng môn Hoa Sơn Nhạc Bất Quần. Biết bao nhiêu mưu mô lừa lọc nham hiểm được sử dụng, dù có phạm nặng nề những giới luật chính phái như lừa thầy phản bạn, khi khi đồng đạo, ỷ mạnh hiếp yếu, ăn cắp tài vật... Để TỊCH TÀ (chống lại điều tà) người ta không từ chối sử dụng mọi mánh khoé yêu tà.

Cuối cùng, một số người đã thành công, chiếm được bản chính (Đông Phương Bất Bại, Nhạc Bất Quần, Lâm Bình Chi) hoặc bản sao (Tả Lãnh Thiền, Lao Đức Nặc) của Tịch Tà kiếm pháp. Đem áp dụng vào đời, họ phải giải cho xong vấn đề tiên quyết: muốn luyện Tịch tà, trước hết phải tự thiến.

Hoá ra phương pháp Tịch tà là toàn trái ngược với Độc cô cửu kiếm.

Một bên chủ trương để thuận theo tự nhiên, phủ nhận mọi cái tĩnh gò bó áp chế, giữ nguyên vẹn nguồn tự do, hướng sáng tạo của con người. Một bên chủ trương cắt đứt tình cảm, hủy diệt nhân tính, biến con người thành một phương tiện thuận lợi tối đa cho kế hoạch chương trình sẵn, sử dụng con người như một máy móc hoàn toàn thụ động vô tri.

Luyện Tịch tà kiếm pháp, kiếm khách phải dứt bỏ tình người. Không thể nào vừa muốn thành công vẻ vang về võ học lại vừa muốn giữ nguyên vẹn nụ cười trẻ thơ, tiếng ru à ơi của người mẹ, tình liên đới nhân loại, nghĩa là trọn vẹn tình thương yêu. Người mà không dứt khoát tự thiến trước khi luyện kiếm, hoặc võ công không tiến bộ hoặc bị tẩu hoả nhập ma mà chết.

Điều kiện tiên quyết gắt gao như vậy vẫn không làm cho người đời thối chí . Lúc nào cũng vậy, sự quyến rũ của quyền hánh tối thượng tìm đủ mọi cớ để biện minh cho sự xem thường tình người, nên số người tự nguyện luyện Tịch tà kiếm pháp không ít. Họ không thèm sống như một con người đích thực, tuy yếu đuối phù du nhưng sáng ngời tình thương yêu.

Lâm Bình Chi hoàn toàn thờ ơ với mối tình nồng nàn của Nhạc Linh San, dứt khoát dứt bỏ tình vợ chồng. Suốt đời căm hận Dư Thương Hải, chàng chỉ nghĩ đến hai chữ báo thù . Tất cả cuộc đời chàng trở thành vô nghĩa, tình quyến luyến vợ con trở nên thừa thãi chỉ thích hợp với hạng lãng tử, tầm thường, nếu Lâm Bình Chi chưa tiêu diệt được bọn Thành Thanh. Để thực hiện mục tiêu, Lâm Bình Chi không ngần ngại bấu vào cửa sổ chênh vênh trên vực sâu nghe lén chuyện phòng the của sư phụ, liều lĩnh đoạt cho được gia bảo là Tịch tà kiếm pháp, để cuối cùng đâm chết vợ tỏ lòng thành với Tả Lãnh Thiền.

Nhạc Bất Quần trước hết hi sinh tình thầy trò, trân tráo vu oan cho Lệnh Hồ Xung để thực hiện mưu đồ, sau đó tên ngụy quân tử này xem thường luôn cả tình vợ chồng, thấy Nhạc phu nhân bị trói nằm sóng sượt dưới đất không nhúc nhích, nhưng lão vẫn không lộ vẻ xúc động, chỉ lo sát hại cho được tên đại đệ tử, bảo vệ ngôi minh chủ.

Đông Phương Bất Bại tự giam mình trong động tối, mặc áo thêu, chăm chút đường kim mũi chỉ cho Dương Liên Đình, trở thành một loại người không ra người, quỷ không ra quỷ. Tuy đã luyện Quỳ hoa bảo điển đến trình độ tuyệt luân, cắt bỏ hết tình thương đến độ thản nhiên, kể lể ân nghĩa trầm trọng với Đổng Bách Hùng rồi thản nhiên giết chết, điều khiển tình cảm ngăn nắp thứ tự theo kế hoạch, thuận lý trí, Đông Phương Bất Bại vẫn thú nhận lâu nay mình đuổi bắt toàn ảo ảnh :

" Khi tại hạ mới làm giáo chủ, ý chí nổi lên bồng bột, những muốn ra tay hành động một phen, thành ra có những câu VĂN THÀNH VÕ ĐỨC TRUNG HƯNG THÁNH GIÁO.

Thật là những câu huênh hoang vô sự.

Về sau vì luyện được Quì hoa bảo điển, mới dần dần tỉnh ngộ, đến chỗ mầu nhiệm của đời người, nào luyện đan nào phục thuốc. Mấy năm sau, lại hiểu rõ về cuộc sinh hóa của con người cùng những mấu chốt nẩy nở của vạn vật ".

(trang 1930 quyển 11)

Không biết chân lý tìm thấy của Đông Phương Bất Bại là gì, nếu có một nguyên lý mầu nhiệm của đời người, uyên nguyên cuộc sinh hóa trong vũ trụ, ấy chính là lẽ thuận tự nhiên của Độc Cô cầu bại. Trong bóng tối lầm lạc, Đông Phương Bất Bại thú nhận sự huênh hoang vô sự ngày trước, và đã tìm ra chân lý.

Tóm lại, trong Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung đã đưa ra hai giải pháp để giải quyết sự tranh chấp tương tàn thường xuyên trong xã hội loài người.

Một giải pháp tôn trọng tuyệt đối quyền sống trọn vẹn, quyền tự do thiên liêng, phủ nhận hết thảy mọi định chế nhân tạo, là phương thức vô chiêu của Độc cô cửu kiếm. Đây là một giải pháp lý tưởng siêu việt, nên dễ trở thành không tưởng viễn vông. Nó chỉ có nghĩa khi con người bị đặt vào trong những nghịch cảnh cấp thiết, bên bờ vực sâu tội lỗi hay kề cận bên cái chết vô nghĩa. Vào những lúc nguy nan của đời người, sự giác ngộ thường đến bất chợt, để thấy tất cả những đam mê tham lam theo đuổi xưa nay chỉ là phù du. Đó là giải pháp vượt quá tầm người. Khốn nổi, thời đại chúng ta chỉ cần một giải pháp cho con người bình thường sống đời bình thường.

Một giải pháp cắt bỏ tình người, biến nó thành công cụ trọn vẹn cho một kế hoạch, không cần biết âm thanh Nhạc Bất Quần đã đổi, Nhạc Linh San bị giết, Lệnh Hồ Xung mang oan nghiệt, Lâm Bình Chi mặc áo thêu và thơm phức nước hoa.

Tất cả đều tốt, miễn nó phục vụ hữu ích cho cùng đích. Sự lạnh nhạt với tình người đó không có gì vương đạo. Nếu vì muốn tịch tà (chống điều tà) mà phải trở thành gian manh khốn nạn đánh mất nghĩa sống, thì tịch tà mà làm gì?

Chính Lệnh Hồ Xung khi nhìn thấy cách sử kiếm của Lâm Bình Chi, phải tự hỏi :

- Chẳng lẽ đây là Tịch tà kiếm pháp chăng?

... Tịch tà, tịch tà! Sao lại kêu bằng tịch tà? Chính công phu này có vẻ rất bàng môn tả đạo thì còn tịch tà thế nào được.

(trang 2202 quyển 13)

Những gợi ý của Kim Dung trong Tiếu ngạo giang hồ không giúp cho người đọc tìm ra một giải pháp thỏa đáng, mà đặt họ trước một ngã cụt. Kim Dung thấy rõ sự thất bại của mình. Chắc ông băn khoăn lắm, không biết giải quyết làm sao, làm sao dứt một lần cho xong đi nỗi ám ảnh khốn khổ.

Sự lúng túng ấy hiện rõ trong phần kết luận của câu chuyện. Ông kết luận vội quá. Sự tranh dành ngôi cao, rình rập chém giết nhau trong hàng ngũ chính phái kết gọn bằng cái chết chung trong động tối trên ngọn Ngọc phong : từ Mạc Đại tiên sinh của Hành sơn, Tả Lãnh Thiền của Tung sơn, cho đến Nhạc Bất Quần của Hoa sơn, Ngọc Khánh Tử và Ngọc Chung Tử của Thái sơn. Cuộc tranh chấp miên viễn giữa chính phái và ma giáo giải quyết bằng những yếu tố bất ngờ thuộc loại nghìn năm một thuở : Nhậm Ngũ Hành chết trong cơn đắc chí, tân giáo chủ là Doanh Doanh sẵn sàng vì tình yêu cải tà quy chánh. Kết quả : cuộc diện võ lâm sẽ như thế này: Hướng Vân Thiên vẫn quản trị giáo chúng trên Hắc mộc nhai để vì nhu cầu điều khiển vẫn duy trì những câu VĂN THÀNH VÕ ĐỨC, TRUNG HƯNG THÁNH GIÁO MUÔN NĂM TRƯỜNG TRỊ, THỐNG NHẤT GIANG HỒ, Nghi Thanh và đám ni cô vẫn biệt lập ở Hằng sơn, Thiếu Lâm trường tồn trên núi Thiếu Thất, và Võ Đang vẫn tiếp tục bảo tồn và phát huy võ học cao thâm của Trương Chân Nhân.

Kiếp nạn tạm thời chấm dứt, nhưng không ai dám quả quyết là sẽ không còn các kiếp nạn khác, nếu có một nhân tài xuất chúng đột nhiên trở lại lòng trần, muốn thống nhất giang hồ muôn năm trường trị.

Vấn nạn ban đầu vẫn còn đấy, băn khoăn ban đầu vẫn còn đấy. Lại sa vào trường hợp Vô Kỵ, Đoàn Dự, Lệnh Hồ Xung bỏ cuộc ở lưng chừng con giốc, làm tên đào ngũ.

Nguyễn Mộng Giác

Bình luận