Nơi lưu giữ những tác phẩm của Nhà Văn Nguyễn Mộng Giác (1940-2012)
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Phần Hai - Chương 3 - Chặng cuối của một niềm tin

Chỉ mục bài viết


DẤU TÍCH TÂM TRẠNG CỦA BA THẾ HỆ ?

Thật vậy, cứ đem câu hỏi này:

Trong tiểu thuyết Kim Dung, bạn thích cuốn nào nhất? ra hỏi nhiều người thuộc nhiều lứa tuổi, chúng ta sẽ tìm thấy những dấu tích tâm trạng của từng thế hệ.

Theo ý kiến của Hoàng hải Thủy, trên một bài báo, thì tác phẩm tuyệt diệu nhất của Kim Dung vẫn là CÔ GÁI ĐỒ LONG (tức Ỷ THIÊN ĐỒ LONG KÝ). Sau tác phẩm nầy từ nhân vật cho đến câu chuyện, Kim Dung không thể sáng tạo được cái gì mới mẻ hơn. Hoàng Dung, Doanh Doanh chỉ là cái bóng mờ của Triệu Minh, còn những vấn nạn quan trọng, Kim Dung đã nói hết trong Cô gái đồ long rồi. Ý kiến của Hoàng hải Thủy được nhiều người thế hệ bốn mươi tàn đồng (1). Điều ấy dễ hiễu.

Trong cuộc thăng trầm của lịch sử từ cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945, đây là thế hệ độc giả từng cầm cờ đỏ tiến về bắc bộ phủ, gia nhập tự vệ thành, vẫy tay chào người yêu nam tiến rồi dứt khoát bỏ lại đằng sau thành phố quen thân và cuộc sống thư sinh trốn vào bưng biền. Khí thế cách mạng bừng bừng. Có cuộc đời nào đẹp cho bằng cuộc đời dấn thân, sẵn sàng chịu đựng mọị gian khổ và hy sinh để bảo vệ tổ quốc. Nhưng đất đã dần dần trật lở dưới chân họ, và họ đã lảo đảo ngả nghiêng. Họ băn khoăn, so sánh giữa cái giá độc lập dân tộc và cái giá nhân phẩm của chính mình. Thật là một cuộc lựa chọn so bì đau lòng, nhất là lúc bấy giờ ai cũng thấy rõ sinh hoạt sa đọa và tính chất phi chính nghĩa của những người đứng trong hàng ngũ Pháp. Không nói đến những người tiếp tục đứng trong hàng ngũ kháng chiến chống Pháp, những người về thành trước hay sau hiệp định Genève đều mang một thứ mặc cảm tội lỗi. Họ thấy cần phải làm một cái gì để biện minh cho sự lựa chọn đã rồi. Họ muốn nói với mọi người, nói thật to rằng họ không phải là kẻ hèn nhát, kẻ thua cuộc. Cuộc di cư vĩ đại đưa hàng triệu người vào nam, khiến những kẻ khao khát đi tìm một lời biện minh càng đông. Cố gắng giải thích vì sao phải bỏ kháng chiến, bỏ quê hương, thực sự đã trở thành nhu cầu cấp thiết. Cùng với tâm lý của thế hệ chủ động trong các sinh hoạt miền nam sau hiệp định Genève, là sự thành hình các liên minh quân sự nhằm vây chận ảnh hưởng cộng sản ở Đông nam á, tạo thành hai yếu tố khích động phong trào tố cộng và xây móng cho nền đệ nhất cộng hòa. Thế hệ bốn mươi tưởng đã tìm thấy nghĩa sống. Nhưng các biến động chính trị từ 1960 trở về sau đánh tan giấc mơ đẹp trong hồn thế hệ này, khiến một lần nữa, họ băn khoăn hoang mang, không hiểu mình đã thực sự tìm thấy một lý tưởng phụng sự hay chưa Những bất mãn trong giới trí thức và văn nghệ sĩ càng nhiều. Những đàn áp thô bạo các quyền tự do của mấy năm cuối chế độ Ngô đình Diệm không khác với sự độc tài họ tìm thấy trong hàng ngũ lãnh đạo kháng chiến về bản chất, mà chỉ khác về cấp độ. Nhiều người ở hàng ngũ lãnh đạo cao cấp còn cố gắng áp dụng những xảo thuật cai trị trước kia cộng sản đã áp dụng: sự chi phối từ trên xuống dưới của tập đoàn chính trị, tận dụng bộ máy cảnh sát mật vụ, đoàn ngũ hóa quần chúng.

Thực sự thế hệ bốn mươi đã hết sức băn khoăn không biết phải làm gì đây, khi bước vào thập niên 1960, chế độ càng suy yếu, thì các phản ứng của chính quyền càng thô bạo vụng về, và sự can thiệp của ngoại bang càng lộ liễu. Chính nghĩa ở đâu ? Mình đang ở đâu ? Ở đây là chính hay là tà ? Mình đã chống tà nên mới qui chính, nhưng có thật những thực tại chính trị trước mắt có đầy đủ phong độ, bản sắc của chính không ?

Trong tâm trạng hoang mang đó, những mẫu chuyện đăng từng kỳ của Cô gái Đồ long trên nhật báo (Sự băn khoăn của Vô Kỵ, những nhân vật đứng trong cái hỗn mang mờ ảo của chính tà), thực sự đáp đúng khát vọng của thế hệ. Cũng như Vô Kỵ, thế hệ bốn mươi đã từng băn khoăn. Cũng như Vô Kỵ, thế hệ bốn mươi cảm thấy chua xót khi đem chính cuộc đời mình quăng vào giữa cuộc tranh chấp khốc liệt để không biết đi về phương nào. Cô Gái Đồ Long của Kim Dung, trong hoàn cảnh đó, quả đã gây xúc động tối đa cho thế hệ Hoàng hải Thủy. Và cho một thế hệ, chỉ cần một tác phẩm làm xao động mãnh liệt tâm hồn con người.

Hỏi ý kiến của thế hệ ba mươi (2), câu trả lời sẽ khác ý hẳn. Đây là thế hệ độc giả của thời kỳ thơ ấu trong kháng chiến, và vào đời khi hòa hình đã trở về. Kháng chiến, bom đạn, tản cư, chỉ là những kỷ niệm gay cấn ấu thời.

Đối với thế hệ nầy, kháng chiến còn đầy đủ vẻ đẹp huyền thoại của một Phong trào quần chúng nô lệ, hào khí bừng bừng, vạc nhọn tầm vông, đứng lên chống áp bức giành độc lập. Hồi tưởng người xưa, cảnh xuống hầm trốn bom có khác nào cảnh Thạch Sanh vào hang sâu chém đầu chằng. Và tản cư là một cuộc cắm trại hứng thú có đầy đủ nào di hành trong đêm, nào cỏ cây rừng núi hay đồng nội bao la.

Thế hệ ba mươi lớn lên, hoàn toàn toàn cảm thấy sòng phẳng, không hệ lụy với bất cứ lựa chọn băn khoăn nào. Cuộc ra đi năm 1954, đối với thế hệ trước, quan trọng không kém cảnh Kinh Kha qua sông Dịch, với thế hệ ba mươi, chỉ là một kỷ niệm phiêu lưu dài. Tình thế ổn định những năm đầu của chính thể cộng hòa giữ được cho họ nguyên vẹn niềm tin và sự lạc quan. Những biến động mấy năm trước cuộc đảo chính 1963 hoàn toàn trái ngược với lý tưởng nhân bản họ ấp ủ.

Không giống như thế hệ bốn mươi đang ngẩn ngơ băn khoăn, thế hệ ba mươi bạo dạn hành động, tham gia lật đổ bạo quyền. Ngô triều đổ, cả thế hệ ba mươi cảm thấy hãnh diện, và giấc mộng người hùng đội đá vá trời tìm thấy một biểu tượng : Tiêu Phong. Dũng mãnh như con hùng sư, ngang tàng mà nhân hậu, chơn chất mà tế nhị, Tiêu Phong của Kim Dung đã lôi cuốn, quyến rũ thế hệ ba mươi. Cho nên không ai ngạc nhiên thế hệ này cho Lục Mạch Thần Kiếm là tác phẩm hay nhất của Kim Dung.

Thế hệ hai mươi (3) không đồng ý như vậy. Chiến tranh là tặng vật chua chát dành sẵn cho họ, trước khi họ đủ sức cầm khẩu Garant M I, trước khi họ qua khỏi những xao động dậy thì, trước khi những kiến thức trường ốc hoa bướm loè loẹt kịp phai nhòa trong tâm trí. Thực tại chiến tranh đến đột ngột quá, họ chưa kịp băn khoăn, họ chưa kịp phác họa một mẫu người hùng đã lững lờ đứng trước một sự đã rồi. Sự đột ngột tạo cho họ hai thứ phản ứng trái ngược :

- Hoặc họ hăng hái tố cáo sự thô bạo tàn khốc của chiến tranh bất kể từ đâu tới, bất chấp mọi nhân danh, hay chiêu bài. Từ thái độ ấy, thi ca, tiểu thuyết, âm nhạc phản chiến ra đời, ghi dấu 1 chuyển hướng quan trọng của sinh hoạt nghệ thuật sau năm 1965, tức là năm quân đội Mỹ bắt đầu ồ ạt đổ vào miền nam Việt nam, và là năm thế hệ hai mươi bắt đầu vào quân trường.

- Hoặc ngược lại, họ tìm quên trong thái độ lãng tử vô tâm, phất phơ như chiếc lá, lãng đãng như áng mây. Có thể đó là nguyên nhân sự ái mộ trở lại các bản nhạc lãng mạn tiền chiến, và sự say mê tôn thờ chàng đại lãng tử Lệnh hồ Xung của Kim Dung.

Có thể đứng trên bình diện nghệ thuật và bác học để suy tôn Kim Dung như ý kiến Đằng Vân Hầu, nhưng với đám đông độc giả Việt Nam, quả tình sự ái mộ là dấu tích của một trạng thái tâm lý. Trạng thái ấy thay đổi theo thời cuộc, theo tuổi tác của độc giả.


____________________________________

(1) Chúng tôi muốn nói thế hệ sinh từ 1925 đến khoảng 1936 nghĩa là thế hệ thanh niên lúc cách mạng mùa thu bùng nổ.

(2). Tức là thế hệ sinh khoảng từ 1937 đến 1945, chỉ vào đời sau Genève, khi tình thế đã ổn định, chiến tranh đã chấm dứt.

(3) Tức thế hệ sinh khoảng từ 1946 đến I952, trực tiếp tham dự chiến tranh Đông dương thứ nhì, bùng nổ mãnh liệt từ 1965 đến nay.

 

Bình luận