Dư Sinh

6

Rồi ngày hôm sau, mặt trời vẫn mọc. Trừ khu xóm ven núi, cây lá sườn đồi vẫn xanh. Chỉ có tiếng be be của đàn dê là không còn. Nhưng gia đình tôi còn hơi sức nào chú ý chuyện loài vật. Ai đến xin thịt, cha mẹ tôi cũng cho. Cả nhà ngồi thừ bên xác anh Hai, co quắp đen đủi chẳng khác gì một xác dê. Lại thêm một chiếc chiếu cũ. Lại thêm hai đàn dây dừa. Anh Hai cũng chết bất đắc kỳ tử, nhưng mặt mũi tay chân đã đen cháy rồi, có cần quẹt mực làm dấu nữa không? Đó là tôi tự hỏi vậy, chứ cha mẹ tôi, và cả bác hàng xóm cũng không có thì giờ hỏi vậy. Nhà nào bây giờ cũng có một hai cái tang riêng, khỏi phải đi phân ưu như hôm qua. Rồi người chết cũng yên phận. Sự khổ, hận là phần người còn lại, nhà nào cũng bị cháy, nhưng xong cuộc, thì ai nấy lo đào hầm trốn bom trước khi trồng vài cái cột cháy, gác cây táo nhơn, lợp một lớp mái lá trên nền cũ. Nghe tiếng chuồn chuồn từ xa, dân làng đã chạy núp dưới hầm. Sau cuộc oanh tạc, chuồn chuồn kim trở lại, tung bươm buopm71 xuống khu Tân An đen đúa. Truyền đơn bảo:

” Đồng bào chú ý.

Làng đồng bào bị oanh tạc vì đồng bào đã chứa chấp bọn Việt Cộng. Làng đồng bào bị oanh tạc vì đồng bào đẵ giúp đỡ, cung cấp lương thực cho Việt Cộng.

Làng đồng bào bị oanh tạc vì đồng bào đã a tòng với bọn Việt Cộng, lập căn cứ bắn vào quân đội hay trực thăng Hoa Kỳ.

Làng của đồng bào sẽ bị oanh tạc trở lại nếu đồng bào tiếp tục cộng tác với Việt Cộng dưới bất cứ hình thức nào.

Đồng bào có thể tự bảo vệ xóm làng bằng cách cộng tác với quân đội Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh.

Hãy báo cho quân đội VNCH hay quân đội Hoa Kỳ biết chỗ ẩn núp của Việt Cộng, để chính phủ và đồng minh bảo vệ đồng bào.

Quân đội VNCH và đồng minh sẽ đuổi Việt Cộng khỏi xóm làng của đồng bào, giúp đồng bào sống no ấm và tự do.”

Ngày sau chuồn chuồn kim lại tung truyền đơn khác, chỉ về cách đun sôi nước uống và dặn dò treo mùng cẩn thận để ngừa sốt rét. Không ai hiểu truyền đơn này muốn nói gì. Nhiều người đã nghi truyền đơn ấy là ám hiệu liên lạc, làm cho cả làng hồi họp chờ đợi. Dự đoán ấy hoàn toàn sai lạc, vì mãi một tháng sau, quân đội Mỹ mới đổ quân chiếm Tân An.

Chưa bao giờ tôi nghe đạn nổ rền và thấy chuồn chuồn nhiều như vậy. Năm sáu chục chiếc bay từ phía biển lên, hạ ngay giữa làng để quân lính nhảy xuống rồi cất lên nhường chỗ cho chiếc khác. Trong lúc đó, đại bác bắn nát dọc sườn đồi, từ rẫy sắn của cha tôi đến tận bờ đầm. Mấy chiếc chuồn chuồn lớn hơn bay quanh dọc theo bờ sông, bắn từng hồi vào các cụm dừa nước và bụi dứa dại. Tân An đã bị lưới đạn lớn nhỏ vây chặt, rào kín. Chuồn chuồn kim bay thật thấp, vòng quanh làng, loa lớn:

– Đồng bào hãy bình tĩnh. Ai ở yên trong nhà nấy. Người nào chạy trốn sẽ bị trực thăng bắn chết. Đồng bào hãy yên tâm. Chúng tôi đến đây để tiêu diệt bọn Việt Cộng, bảo vệ an ninh cho đồng bào. Đồng bào hãy bình tĩnh tuân theo các lời chỉ dẫn của chúng tôi.

Lúc tiếng máy bay bớt ồn ào, lính Mỹ đã tràn ngập khắp làng. Một lớp từ bờ sông, đầu núi lăm lăm khẩu súng tiến vào; một lớp từ giữa làng chia thành toán nhỏ tiến ra.

Hai người lính Mỹ cao lớn, một da trắng, một da đen, chỉa súng xuống miệng hầm bắt buộc cả gia đình tôi lên mặt đất. Mẹ tôi chui ra trước, người lính đen ra hiệu bảo để hai tay lên đầu. Chị Mương bắt chước y vậy, ra đứng núp sau lưng mẹ. Cha tôi vừa ra khỏi, người lính trắng đã chụp hai tay bẻ ngoặt ra sau lưng và rờ khám khắp mình. Không thấy gì, ông ta ra dấu cho phép cha tôi đứng gần chỗ mẹ. Tôi ra sau cùng, cũng bị khám xét rồi đứng sau cha. Người lính trắng nói gì với người lính đen rồi vào cái lều tạm đứng trên nền cũ lục lạo. Ông ta lấy được bộ quần áo của anh Hai, đem ra hỏi mẹ. Vi Xi, Vi Xi?

Mẹ không hiểu gì hết, trả lời đại:

– Thưa ông Mỹ, đó là áo quần thằng con trai của tôi. Nó chết cháy rồi, còn đâu nữa. Cha nó thấy bộ đồ còn tốt, giữ lại để mặc.

Cha tôi nghĩ mẹ nói như vậy chưa rõ, quay ra giải thích với người lính da đen:

– Gia đình tôi có ba đứa con trai, một đứa con gái đang ở đây. Hai đứa lớn chết rồi, một đứa bị đạn nát mặt, một đứa bị bom đốt cháy. Nhà cửa tiêu tan hết, nay chỉ còn hai đứa nhỏ này thôi.

Cả hai người lính không hiểu gì, đứng ngẩn ngơ, không biết phải xử trí ra sao. Lúc bấy giờ chuồn chuồn kim loan báo:

– Ngay bây giờ tất cả đồng bào phải tập trung trước sân trường học để ban sưu tra làm việc.

Nói tiếng Việt xong, loa nói bằng tiếng ngoại quấc. Hai người lính đẩy chúng tôi về phía trường, sau khi nhìn lại miệng hầm.

Đến sân tập trung, mọi người trong làng đã lục tục, thất thểu về đủ. Một toán lính Việt chờ sẵn ở đó, bắt nam nữ ngồi riêng ra hai bên theo hàng ngũ. Mỗi người ngồi bệt xuống đất mắt nhìn xuống bàn chân. Không khí im lặng nặng nề đến khó chịu. Một lính Mỹ lấy máy ảnh chụp hình khẩu hiệu treo trước trường cẩn thận quan sát, rồi leo lên gỡ xuống. Người lính Mỹ xì xồ hỏi người lính Việt đứng cạnh. Anh ta trả lời, xong quay lại nói với đồng đội:

– Đ. M. dân gì đâu mà thứ gì cũng để dành kỷ niệm. Hèn gì ở Chu lai họ may cờ, nhúng máu gà, giả làm cờ trận của Việt Cộng, bán đắt như tôm tươi.

Chiếc máy bay chuồn chuồn thân nhỏ như cái hột vịt lúc ấy hạ cánh ngay sau trường. Một người lính Mỹ bước xuống, nói tiếng Việt với một người có vẻ như là sĩ quan của toán sưu tra.

– Các ông đã sẵn sàng làm việc chưa?

Giọng nói tiếng Việt ồm ồm lạ tai làm một vài người tò mò ngước nhìn. Người sĩ quan Việt trả lời:

– Đã. Như thường lệ. Chúng tôi chỉ có nhiệm vụ phân loại, căn cứ theo các lời sơ vấn. Muốn xác định kỹ hơn, phải có tài liệu của Ty Công an đối chiếu.

– Chúng tôi đã bao vây làng, và gom dân về đây. Bây giờ, công việc các ông làm mới là phần quan trọng nhất : phân biệt Việt Cộng với thường dân, để sau đó tiêu diệt trọn trạm liên lạc quan trọng này.

Người sĩ quan Việt hốt hoảng hỏi:

– Tiêu diệt? Các ông định phá hủy làng Tân An sao?

– Vậy anh cho biết thử trong làng này, trong mấy cái chòi này, có gì đáng giá nào? theo tôi, dường như họ sống dưới hầm chứ đâu có sống trong nhà. Làng này chẳng khác nào một chiến lũy Maginot. Trên mặt đất, chỉ có vài cây cột với mái lá.

– Phần lớn hầm hố là để tránh bom đạn, đâu phải là hào chiến đấu!

Người Mỹ lắc đầu, vững tin ở mình :

– Tôi không nghĩ vậy. Dù sao, sống chui rúc ở dưới hầm hố này, sợ bom đạn, sợ Việt Cộng đâu phải đúng nghĩa của đời sống.

– Vậy các ông định làm gì?

– Chúng tôi sẽ thiêu hủy cả làng, cho Việt Cộng không thể dùng làm căn cứ được nữa rồi chở tất cả đồng bào về trại định cư.

– Thôi tôi biết, hiện hai trại trên quận đã quá đông người tị nạn. Chỗ đâu để số đồng bào này về ở?

– Việc đó là trách nhiệm của Thiếu tá quận trưởng. Chúng tôi đã điện thoại cho ông ấy biết là sắp có một số dân tị nạn về quận. Đây là xứ sở các ông, đây là dân của các ông. Chúng tôi muốn các ông đảm nhiệm trách vụ này.

Viên sĩ quan Việt có vẻ tức giận:

– Đã đành vậy rồi, nhưng vì sao các ông dấu kế hoạch hành quân cho đến phút chót, rồi đột ngột câu chúng tôi bỏ xuống đây, bảo: Đấy, làm việc đi?

Người Mỹ trả lời:

– Rất tiếc, không thể trả lời cho trung úy trước mặt dân chúng được. Tôi sẽ trình lại thiếu tá để thiếu tá giải thích cho trung úy rõ.

Nói xong người Mỹ trở lại máy bay rồi bay đi. Viên trung úy có vẻ tức giận, chửi thề liên hồi. Ông ta quay lại nói với mấy người lính :

– Thôi, tụi bay lần lượt cho đồng bào về đem đồ đạc của cải ra đây. Tụi nó sắp đốt cháy hết.

Chúng tôi nghe vậy, hết sức hoang mang. Bên phía nam, vài người định bỏ hàng về lại nhà. Mấy người lính lên đạn dọa :

– Phía nam ngồi yên đó. Chỉ có đàn bà mới được về nhà đem đồ đạc ra đây. Hàng này đi trước, rồi tới hàng này.

Từ bên này nhìn sang, tôi thấy các bà mang ra hoặc bọc quần áo, hoặc thúng gạo, hoặc cái rổ đựng chén bát. Có người dắt cả heo hay xách lồng gà vịt. Có người ôm cứng cái bài vị. Mẹ tôi và chị Mương mang ra được một bọc quần áo chưa cháy và cái thạp gạo. Chúng tôi bị lùa lên trực thăng trước nên không hiểu các bà xoay xở ra sao để đem cái gia tài tồi tàn cồng kềnh ấy lên máy bay. Tất cả đàn ông từ lứa tuổi tôi đến già đều bị cột tay ra sau lưng, một cái bao cát màu xanh trùm kín đầu. Chúng tôi sờ soạn vịn nhau leo lên máy bay chuồn chuồn. Thôi xa rồi cây cỏ và núi đồi. Thôi xa rồi dòng sông và con suối. Xa rồi cái chuồng dê cháy đen vắng tiếng be be, và cây ổi, cây xoài… Từ lúc sinh ra, đây là lần đầu tôi xa quê hương, xa mà mắt mù lòa, không được nhìn lại nó lần cuối cùng.

 

   Số lần đọc: 15800

Tác Phẩm

BÀI KỀ

Bài trước
Bài tiếp theo

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây