Dư Sinh


8

Sáng hôm sau ông Trung úy lái xe nước tới trại, đưa cho cha mẹ ký một xấp giấy tờ. Cha ký bằng chữ Hán, còn mẹ thì vụng về cầm cây viết nguyên tử gạch chữ thập vào chỗ trung úy chỉ. trung úy bảo khoảng hai tuần lễ nữa hy vọng có tiền trợ cấp. Chị Mương hỏi có xin trực thăng về Tân An được không. Ông trả lời là xin không được, và học sinh dưới thành phố bận làm văn nghệ chưa lên cứu trợ kịp. Lúc trung úy ra về, mẹ nhìn bao gạo xẹp gần hết ngẩn ngơ xuất thần. Vài gia đình đã lén xuống phố quận xin gạo. Mấy đứa nhỏ ra đầu đường chờ xe Mỹ chạy qua xin kẹo và thuốc lá. Nhiều hôm chúng đem về cả bia hộp nữa. tuy nhiên cái nghề đi xin cũng lắm tai nạn nghề nghiệp. Có đứa lỗ đầu vì bị lon bia ném từ trên xe đang chạy va vào trán. Có đứa ho sù sụ vì tập hút thử thứ điếu thuốc to bằng ngón tay cái.

Tình trạng nguy ngập, nên có nhiều người liều lĩnh lén về Tân An vào ban đêm. Họ đã thành công. Người đem lên được giỏ khoai. Người đem lên được bao lua giống. Người thì khệ nệ vác cả bộ ngũ sự. Người ta cho biết làng hoàn toàn hoang vắng, như một gò đất mới. Những tin vui ấy khuyến khích, nên tôi lén cha mẹ và chị Mương, vào giữa khuya, lẻn trốn về.

Vừa lội qua sông, bước qua khóm dừa dại đã có tiếng súng lên cò lách cách và tiếng hô: Ai, đứng lại.

Giọng hô rõ mồn một trong đêm, nghe lại quen quen. Lúc bóng đen đến gần, tôi mới nhận ra anh Đành. Lố nhố bên bờ sông, có mấy người nữa. Anh Đành hỏi:

– Ngang đó phải không? Về đây làm gì?

– Em về lấy lúa với quần áo.

– Mấy hôm trước có người xóm trên lẻn về anh biết, nhưng không ra mặt, để cho họ đem lương thực đi. Đáng lẽ số lúa khoai bỏ lại đã được chuyển vào khu rồi. Lên quận đã có Mỹ nuôi, sao lại về lấy thêm lương thực? Đàn bà con gái ốm yếu lên trại định cư được rồi, nhưng em, con trai, phải ở lại chiến đấu.

Tôi sợ sệt, trả lời:

– Nhà bây giờ chỉ còn có Ngang là con trai. Anh Cả, anh Hai chết hết…

Anh Đành ngắt lời:

– Chính vì hai anh ấy chết mà bây giờ em phải ở lại đây, gia nhập du kích.

Cả toán người đưa tôi qua phía đầm, theo đường mòn đi sâu vào mấy rặng núi cao bên kia Đại An. Tôi lặng lẽ bước không thể xóa được hình ảnh cha mẹ và chị Mương sáng hôm sau hớt hải đi tìm tôi, để buổi trưa buổi chiều ngồi húp cháo lỏng cho qua ngày. Chắc anh đã rõ đời sống trong trại huấn luyện như thế nào rồi. Họ tập cho tôi bắn AK, rút chốt lựu đạn, tập cho tôi cách trộn dầu với bồ hóng để bôi đen thân thể, tập cho tôi cách bò, cách trườn cách núp. Tôi có được một khẩu súng riêng. Tay chạm vào thép lạnh, ngón trỏ để trên lảy cò, tôi sung sướng đến ngây ngất. Tôi muốn được bắn vào cái gì đó, muốn rút thử cái vòng khuyên này rồi ném quả lựu đạn để nghe tiếng nổ xé trời. Không biết anh có cảm giác ấy không, nhưng cầm được khẩu súng, tôi sung sướng như được đứng trên đỉnh đồi nhìn cánh đồng bao la tiếp nối dưới kia. Cho nên tuy tập tành chưa nhiều, sử dụng vũ khí còn lật bật, tôi là người đầu tiên xung phong vào trung đội du kích tấn công đồn nghĩa quân Vĩnh An.

Người nào người nấy chỉ mặc độc cái quần đùi, toàn thân bôi đen để dễ nhập vào bóng tối. Tôi thuộc toán đầu, nhẹ nhàng trườn đến cắt hàng rào dây thép gai. Trong đồn chưa có phản ứng gì, có lẽ họ đang ngủ say. Đến lúc trung đội trưởng bắn phát hiệu và chúng tôi ào ào tràn vào vòng phòng thủ thứ nhì thì cả đồn mới thức giấc. Tôi với một người nữa bắn đã tay, chỉa họng súng về phía lô cốt. Bắn một lúc, chợt nhớ mình chưa ném lựu đạn. Tôi để mặc anh bạn nhào tới, rút chốt một trái lựu đạn ném vào bên trong bờ thành đắp bằng bao cát. Tôi chờ, nhưng không nghe tiếng nổ. Đến lúc hết hy vọng, chợt có tiếng nổ lớn ngay trước xác anh bạn nằm đen trước mặt. Anh chết vì dẫm phải mìn phòng thủ. Tôi ngẩn ngơ mất hồn. Bấy giờ, nghĩa quân bắn hỏa châu sáng trời, và đạn từ bên trong bắt đầu bay ra. Nhiều du kích ngã xuống. Tiếng nổ khác lạ của súng địch kích thích tội, làm tôi quên hết, liều lĩnh bước lên xác bạn nhảy vào vòng thành thứ nhì. Nhiều du kích cũng đã vào đó trước tôi. Chỉ còn một vòng kẽm gai, một thành bao cát nữa là chúng tôi vào được đồn. Tôi tháo chốt một trái lựu đạn, ra sức quăng mạnh vào trong. Lần này, lựu đạn nổ. Tôi sung sướng. Vừa lúc ấy, chuồn chuồn từ phía thành phố bay lên. Đèn sáng trưng trên trời, đạn khạc xuống liên miên. Các bạn tôi lần lượt ngã. Tôi say máu nhào đến phía trước, chợt thấy chân tê lạnh và bụi bốc ngay trước mặt. Sau tiếng nổ, tôi quỵ xuống, đầu óc mê muội dần. Chuồn chuồn lại hiện ra, đúng lúc chúng tôi sắp thắng và hình như cũng chính chuồn chuồn đã chở tôi về quân y viện cưa chân.

Ngang nhìn chăm chăm vào mặt Điền, để dò ý tứ người nghe, rồi bảo:

– Đó, anh thấy không, rõ ràng hồn loài chuồn chuồn đã nhập vào xác máy bay chuồn chuồn để báo oán, như hồn con cọp thật nhập vào con cọp đá để giết cậu học trò. Cọp báo oán một lần là xong kiếp cậu học trò. Nhưng chuồn chuồn thì không. Nó cứ vờn qua vờn lại, như trêu như giỡn với gia đình tôi. Mấy tháng nằm trong nhà thương, tôi cứ nhìn cái chân cụt mà bồi hồi, hối hận. Chỉ vì tôi muốn mau biết bơi, muốn tự nhiên nổi bập bềnh trên mặt nước mà cả nhà tôi chìm nghỉm. Bây giờ thân tàn ma dại rồi chuồn chuồn đã vừa lòng chưa? Tôi tự hỏi vậy. Lúc được chở lên đây nhập trại, tôi lạnh mình khi thấy bên kia đầm lầy, lại có bóng mấy chiếc chuồn chuồn.

Anh Điền có vẻ chế diễu trước sự sợ hãi của Ngang. Nhưng anh vẫn tìm lời an ủi:

– Ngang, không còn gì đáng sợ nữa. Chuồn chuồn bên kia đã gãy cánh rồi. Nó đuổi cho em chạy đến gãy chân thì nó cũng sứt cánh, sứt đuôi. Còn lâu, năm cái xác đó mới lết sang đây!

– Chúng tê liệt, nhưng mắt vẫn còn trong. Khi nào nhìn qua bên kia, tôi cũng thấy cặp mắt lộ đó, chăm chăm nhìn mình.

Anh Điền hỏi:

– Ngang bị nó ám ảnh đến độ đó, sao lần trước không xin về?

Ngang nhìn anh Điền, ngờ ngợ không hiểu anh hỏi chơi hay hỏi thật. Nhìn qua bên kia đầm, chỉ thấy bóng tối mông lung. Gần hơn là mấy chồng giường ẩn hiện dưới ánh sáng vàng lắt lay. Ngang trả lời:

– Về? Về làm gì? Lần trước tôi cũng tự hỏi: Sao không xin về? Tôi cũng muốn lắm chớ. Nhiều hôm nhìn qua lớp rào kẽm gai, sườn núi, cây cỏ xanh tươi hùng vĩ làm sao!

Tôi cứ tưởng mấy tảng đá trắng đá xám là bầy dê của tôi. anh Điền có chú ý bên chỏm núi có một viên đá nhọn hay không? Tôi cứ nghĩ đó là con dê đóm của tôi đang leo lên đỉnh cao, lạc loài, không về, đứng đó mà ngó lung. Tôi cũng ao ước tự do chạy nhảy ca hát trên sườn đồi, bơi sải bên dòng sông, hái bông súng trên mặt đầm…

Nhưng tôi không quên là chân mình đã cụt rồi, không còn có thể chạy theo đàn dê tưởng tượng nữa. Tôi chỉ có thể lê lết giữa chợ quận hay trong tiệm cơm thành phố, rên rên vài tiếng, rồi ngửa mũ ra…

Vả lại, ra khỏi đây? Những con chuồn chuồn voi hãy còn đầy trời. Thỉnh thoảng Ngang còn thấy chúng bay từng đàn về phía có khói lửa dâng cao. Ngay chiều nay, nó vừa hạ cánh xuống sân, vớt ông trung úy Y sĩ…

Thôi, anh Điền à, thà Ngang nằm mãi đây, đủ hai bữa cơm, và đủ bình an đầy giấc, để lâu lâu lấy bạo “nghinh” mấy con chuồn chuồn què quặt gãy cánh bên kia đầm, còn hơn cà thọt mà chạy trốn.

Tôi đã bắt đầu thấy thương chúng rồi. Nằm ụ bên kia, mấy con chuồn chuồn đó cũng què quặt như nạn nhân của nó, có khác gì đâu!

Nguyễn Mộng Giác

   Số lần đọc: 15800

Tác Phẩm

BÀI KỀ

Bài trước
Bài tiếp theo

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây