Dư Sinh


7

Lúc chiếc xe phanh gấp, và người lính gác ra lệnh bỏ cái bao cát xuống, tôi mới thấy cha tôi ngồi sâu phía trong, và xe dừng trước một khoảng ruộng đã cắt xong trơ toàn gốc rạ. Đám đàn bà trẻ con nheo nhóc chạy ùa ra bao vây chúng tôi, tíu tít hỏi thăm. Mẹ chạy lại nắm tay cha tôi sùi sụt, còn chị Mương thì cầm tay tôi lắc lắc không tìm ra lời. Cuối cùng chị bảo :

– Từ hai ngày nay, hai mẹ con cứ sợ họ đem cha với em nhốt trong tù để bắt khai này nọ. Nằm khơi khơi giữa sương gió và nắng nôi mẹ chưa đau là may đó.

Mẹ và chị Mương dắt về “nhà” chiếc chiếu sờn mép được cột vào haio cây cọc thấp, giăng nghiêng bằng hai sợi dây dừa nối xuống hai cọc tre. Một lớp rạ trải ngang trên đất ruộng. Cha hỏi:

– Sao không ở trong trại định cư?

Chị Mương trả lời thay mẹ:

– Thôi cha ơi! Hai cái trại nhỏ xíu chứa dân Tuy An, Đại An, Vinh An còn chưa đủ, chỗ đâu mình ở. Nghe ông quận bảo ở tạm đây, mai mốt sẽ lập thêm trại nữa.

Người đàn bà cùng xóm đến hỏi tại sao chồng chưa được thả về. Trên tay, đứa nhỏ mặt đỏ gay, mũi chảy thòng trên môi. Đứa lớn nắm ống quần mẹ, nheo mắt ti hí vì chói nắng. Ngang trả lời:

– Thưa thím, cháu không biết, vì vào trại hỏi cung, họ chia ra thành từng toán nhỏ. Hơn nữa, đầu luôn luôn bị chụp bao cát, không ai thấy ai hết.

Người đàn bà thất vọng trở về lều, đồ đạc tồi tàn nào nồi niêu, giẻ rách, bao gạo dàn bừa bãi. Sau đống mền chiếu, một bà già đang nằm trên đất rên khừ khừ.

Vào lúc ấy, một chiếc xe nhà binh loại bốn bánh từ đường cái đổ dốc chạy đến giữa đám ruộng, kéo theo một xi tẹt nước. Cả trại náo loạn. Đàn bà con nít đem gàu, son, nồi đất, thùng thiếc chạy đến, chen lấn nhau, bu quanh chỗ vòi nước. Người lái xe mở cửa bước xuống, can ngăn:

– Đồng bào cứ từ từ, đừng chen lấn nhau. Mấy bác này này, để cho các em nhỏ lấy nước trước rồi hãy chen vào.

Tôi nhận ra viên trung úy hôm trước. Nhiều người cũng nhận ra như tôi. Mấy người đàn ông mon men đến cạnh:

– Thưa trung úy, nhờ trung úy can thiệp giùm với quận. Mỹ nó giục quá chúng tôi đem được có chút ít gạo, nay đã cạn rồi. Hôm qua Ty Xã Hội phát thẻ lãnh gạo cứu trợ, đến nay không thấy gì hết.

– Thưa trung úy can thiệp giùm em. Gia đình em ở Hiếu Bình, qua Tân An mài bột sắn chưa kịp về đã bị bắt lên đây. Có mấy bác đây làm chứng.

– Thưa ông, tôi già cả giữ từ đường. Lúc ra đi rối quá xách được nửa bao gạo, quên đem bài vị của cha với ông nội đi theo. Tôi sợ bỏ lại, Mỹ họ đốt, mang tội với ông bà.

Viên trung úy lúng túng không biết trả lời thế nào. Đồng bào kéo đến mỗi lúc một đông. Quanh xe nước, bây giờ bùn nhão ngập đến cổ chân, nhưng người ta vẫn chen vào. Trung úy leo lên thềm xe, nói :

– Bà con cô bác hiểu cho, tôi không có quyền gì ở đây hết. Ngay buổi sáng hành quân chiếm Tân An, Mỹ mới gọi điện thoại cho thiếu tá: “Sắp có khoảng 500 dân tị nạn về quận. Thiếu tá lo liệu tiếp đón họ.” Ông quận bức đầu bức tai, không biết lấy tôn lấy gạo đâu cứu trợ cho đồng bào. Thấy ông rối quá, tôi mới chạy liên lạc trường học, các cơ quan từ thiện. Mai học sinh sẽ lên xây lều cho đồng bào tạm trú. Gạo thì mượn tạm ở kho an toàn. Cái xe nước tôi mượn bên pháo binh.

Mẹ chen vào hứng được một thùng nước, rồi cùng với chị Mương khiêng về lều. Đám người vây quanh trung úy thấy không thể nhờ được gì khác đã bỏ đi. Tôi đến gần ông. Ông nhìn lại đôi mắt đầy nỗi trìu mến và thương xót, khiến tôi bạo dạn hơn.

– Thưa trung úy, khi họ chở hết đồng bào về quận rồi, làng bị đốt hay bị bỏ bom.

– Họ cho xe cày san bằng các hầm hố và nhà cửa. Một ít đồ đạc của đồng bào, tôi cho lính thu dọn lại, để trên sườn đồi chỗ đất bằng, để nếu được, đem về đây cho đồng bào.

– Thưa trung úy, nhà em sắp hết gạo. Nhiều nhà khác cũng vậy. Trung úy can thiệp cho máy bay chở đồng bào về lấy đồ lấy gạo được không?

Viên trung úy nhìn tôi, bối rối không trả lời. Một lúc, ông hỏi:

– Gia đình em có mấy người?

– Trước kia có sáu tất cả. Nhưng anh Cả anh Hai chết nên còn lại bốn.

Ông ta vội hỏi:

– Sao hai anh đó chết?

– Một anh bị chuồn chuồn bắn, một anh bị bom cháy.

– Nếu vậy tôi có thể giúp gia đình em làm giấy tờ xin tiền trợ cấp. Cha mẹ em đâu, cho tôi hỏi ý kiến.

Tôi dẫn ông trung úy về phía lều. Cha mẹ đều có vẻ vừa sợ hãi vừa kinh ngạc. Trung úy nói trước:

– Tôi nghe em này bảo hao bác có hai người con bị bom đạn chết?

Mẹ cướp lời cha:

– Dạ đâu có. Hai đứa nó bị bệnh, chết lâu rồi mà!

Trung úy vội trấn an:

– Bác đừng sợ. Người chết là hết, là yên phận, dù là chết vì lý do gì. Tôi chỉ hỏi để làm giùm giấy tờ xin trợ cấp cho hai bác mà thôi. Ở đây có lệ : nếu một người trên 18 tuổi bị Việt Cộng giết, gia đình vào trại định cư được trợ cấp 4.000 đ. Nếu người đó bị chết trong các cuộc hành quân tảo thanh của quân đội Mỹ, gia đình chỉ được lãnh 3.000đ. Nếu hai bác đồng ý, tôi sẽ làm tờ khai để lãnh 8.000đ.

Cha tôi băn khoăn:

– Thằng Cả vì đi lừa dê mà chết. Thằng Hai bị chú Đành rủ rê mà chết. Bây giờ khai sao đây : chết vì mặt trận hay chết vì ngụy ?

Tôi hốt hoảng kéo tay áo cha, xin lỗi trung úy :

– Trung úy hiểu cho cha của em lớn tuổi nghễnh ngãng, ít nhanh nhẹn ứng biến. Tụi em thì quen miệng rồi, nói với mỗi bên theo mỗi cách. Nhưng cha em thì nói lộn nói liệu luôn. Có lần ông gọi chú Đành là “Việt Cộng”. Vào đây, ông lại kêu lính gác là “lính ngụy”.

Trung úy cười làm mẹ và tôi yên lòng:

– Không sao. Tại mỗi bên dùng một thứ từ ngữ khác nhau. Cho nên chọn một bên, là phải chọn luôn cách ăn nói. Bác già cả, đâu có thạo trò đu dây. Nhưng thôi, bây giờ hai bác khai thế nào?

Mẹ tôi chưa hết lo âu:

– Khai để nhận 8.000đ, lỡ hôm nào về làng mấy ông làm khó dễ làm sao? Mình đâu có ăn đời ở kiếp đây được.

Cha tôi lại bảo :

– Khai nhận 6000đ, lỡ Mỹ họ ghét không cấp tiền thì sao?

Ông Trung úy cười ồ, giải hòa:

– Thôi để tôi khai lãnh 7.000đ, khỏi sợ bên nào cả, rồi lấy giấy ghi tên anh Cả, anh Hai và tên cha mẹ tôi.

 

   Số lần đọc: 15800

Tác Phẩm

BÀI KỀ

Bài trước
Bài tiếp theo

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây